Những nguyên nhân khiến bị lạt miệng

Bác Sĩ Đặng Trần Hào

Lạt miệng là một bệnh liên quan tới hệ thống tiêu hóa, thường liên quan tới hàn, thận và tỳ khí suy.

Ngô thù du là dược liệu được ghi nhận có nhiều tác dụng trong điều trị bệnh. (Hình: thuocdantoc.org)

Thận thuộc hành thủy và tỳ thuộc hành thổ. Một khi thận suy yếu sẽ làm tỳ khí suy theo, không vận hóa được thủy cốc. Vì vậy, trên lâm sàng các bệnh liên quan tới tiêu hóa thường do tỳ, vị và thận sinh ra.

Vì sao chúng ta hay bị lạt miệng và do những nguyên nhân nào sinh ra?

Lạt miệng do phong hàn

Người bị cảm ho, nóng lạnh hay chảy nước mũi, ho rất nhiều, nhất là về đêm nằm xuống là ho liên miên, rất khó chịu và ho mà không long đờm là do âm hàn kinh trúng phong.

Hàn phạm vào da cơ, vệ khí bị yếu gây cảm cúm. Phong là dương tà đi lên và tỏa ra ngoài, nên hay gây bệnh ở phần thượng tiêu (phần trên) của cơ thể và phần dưới của da lông, sợ gió. Bệnh do phong hay di động và đau các khớp xương, đau chỗ này, chỗ khác, ngứa nhiều chỗ, nên thường gọi là phong độc, hâm hấp sốt, đôi khi lạnh buốt không có mồ hôi, nhảy mũi, chảy nước mũi, ngứa cổ, sợ lạnh, sợ gió, ho không đờm hoặc có đờm trắng, miệng lạt ăn không ngon.

Rêu lưỡi trắng mỏng. Mạch phù. Chủ trị: Sơ phong, tàn hàn.

Bài thuốc “Quế Chi Thang:”
-Ma hoàng 9 gram
-Quế chi 6 gram
-Hạnh nhân 9 gram
-Cam thảo 2 gram

Nhiệm vụ các vị thuốc:

-Ma hoàng và quế chi: Gia tăng thông huyết, tán hàn và cho ra mồ hôi.

-Ma hoàng và hạnh nhân: Giúp tiêu đờm và ngưng ho, và thanh nhiệt trong phổi.

-Cam thảo phối hợp các vị thuốc.

Gia: Thương nhĩ tử 6 gram, tân di 6 gram, tử tô tử 6 gram, cát cánh 6 gram: Giúp ngưng chảy nước mũi, hắt xì hơi, ngưng ho và tiêu đờm.

Lạt miệng do thận và tỳ khí suy

Thường gặp ở người già miệng lạt, biếng ăn hay ăn không được nhiều, đôi khi đau bụng vùng hạ vị, phân còn sống, bụng đầy trướng, chậm tiêu hóa, chân tay lạnh, thích nóng, đi tiểu nhiều lần, đau nhức, chân yếu bất lực. Mạch trầm, tế và nhược. Rêu lưỡi trắng và dày.

Phương pháp chữa trị: Ôn bổ tỳ và thận khí.

Bài thuốc “Phụ Tử Lý Trung Thang:”
-Phụ tử chế 9 gram
-Đảng sâm 12 gram
-Bạch truật 12 gram
-Cam thảo 6 gram
-Can khương 9 gram
-Phá cố chỉ 12 gram
-Ngô thù du 6 gram
-Bạch đậu khấu 6 gram
-Ngũ vị tử 6 gram

Gia: Bạch biển đậu 9 gram, mộc hương 9 gram, sa nhân 6 gram, thần khúc 9 gram, sơn tra 12 gram.

Nhiệm vụ các vị thuốc:

-Đảng sâm, bạch truật, can khương, phá cốt chỉ, ngô thù du, ngũ vị tử: Bổ tỳ khí, kiện toàn tiêu hóa và tán hàn.

-Phụ tử: Bổ thận dương và ôn trung tán hàn.

-Mộc hương, sa nhân, bạch biển đậu, thần khúc, sơn tra: Tản khí, ôn tỳ vị, tiêu thấp, tiêu thực, kiện toàn tiêu hóa, ăn ngon không còn lạt miệng.

-Cam thảo: Phối hợp các vị thuốc.

Dược liệu phụ tử được dùng để trị chân tay lạnh, viêm thận mãn tính, răng đau do âm hư. (Hình: thuocdantoc.org)

Lạt miệng do thấp hàn

Lạt miệng do thấp hàn, thường do viêm gan các loại gây ra.

Có triệu chứng ăn ít, không ngon miệng, lạt miệng, tiêu chảy, sợ lạnh. Rêu lưỡi trắng, dày. Mạch phù hoãn.

Phương pháp chữa: Tán hàn, phương hương hóa thấp, ôn trung.

Bài thuốc “Hoắc Hương Chính Khí Thang:”
-Hoắc hương 3 gram
-Phục linh 9 gram
-Cát cánh 6 gram
-Binh lăng 3 gram
-Bạch truật 9 gram
-Hậu phát 6 gram
-Đương quy 3 gram
-Đại táo 3 trái
-Bán hạ 9 gram
-Thanh bì 6 gram
-Sinh khương 3 gram
-Tử tô tử 3 gram
-Cam thảo 3 gram

Nhiệm vụ các vị thuốc:

-Hoắc hương là vị chính trong thang thuốc, gia tăng chức năng dạ dày, kiện toàn tiêu hóa, miệng có vị giác.

-Tử tô tử, đương quy: Giáng khí.

-Phục linh, bán hạ, thanh bì, cam thảo, sinh khương và bạch truật: Tản huyết tích tụ trong dạ dày và ngưng mửa.

-Hậu phát, binh lăng, cát cánh: Gia tăng chức năng, tản khí, giáng khí tại dạ dày và đồng thời giảm trướng tại thượng vị, ăn ngon. [qd]

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT