Sau 100 năm, thế giới vẫn chưa biết cách nào đối phó với Trung Quốc

Vann Phan/Người Việt

SANTA ANA, California (NV) – Đại dịch COVID-19 đã khơi dậy lại ý niệm “họa da vàng,” có từ đầu thế kỷ trước, về hiểm họa đối với thế giới Tây phương từ các nước Đông Á, nhất là hai quốc gia Trung Quốc và Nhật.

Màn hình lớn bên ngoài một trung tâm mua sắm ở Bắc Kinh hôm 1 Tháng Bảy phát hình Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại quảng trường Thiên An Môn Bắc Kinh nhân kỷ niệm 100 năm đảng Cộng Sản Trung Quốc. (Hình: AP Photo/Mark Schiefelbein)

Điều may mắn là Nhật đã từ bỏ chế độ quân phiệt tàn bạo để trở thành một nước quân chủ lập hiến mẫu mực sau khi đầu hàng Đồng Minh hồi năm 1945 trong Đệ Nhị Thế Chiến, khiến cho từ ngữ “họa da vàng” chỉ còn có thể áp dụng cho trường hợp Trung Quốc, một cường quốc khu vực với tiềm năng lớn sẽ trở thành siêu cường số 1 của thế giới thay thế cho Hoa Kỳ.

Từ cái “họa da vàng” của thế kỷ 20 đến hiểm họa Trung Quốc ngày nay

Hồi cuối thế kỷ 19, đúng ra là vào năm 1897, nhà xã hội học Nga Jacques Novikow đặt ra từ ngữ này trong bài khảo luận nhan đề “The Yellow Peril,” để rồi Đức Hoàng Wilhelm Đệ Nhị (1888-1918) đem ra sử dụng để khuyến khích các đế quốc Âu Châu xâm lăng, chính phục, rồi thực dân hóa nước Trung Quốc rộng lớn ở vùng Đông Á.

Vị vua Đức cũng đã dùng từ ngữ “họa da vàng” đặng mô tả dân tộc Nhật sau khi quân đội Thiên Hoàng Nhật đánh bại hải và lục quân của Nga Hoàng trong cuộc Chiến Tranh Nga-Nhật hồi năm 1905, để rồi coi đó là mối đe dọa từ các dân tộc Á Châu đối với các nước Tây Âu.

Nhưng Đế Quốc Nhật Bản, vì xui xẻo, bị Hoa Kỳ và các nước Đồng Minh đánh bại trong Thế Chiến Hai hồi năm 1945, và bị Tướng Douglas MacArthur (tư lệnh lực lượng Mỹ chiếm đóng nước Nhật) ép phải thay đổi hiến pháp để trở thành một nước quân chủ lập hiến hiền hòa của thế giới, đã được lặng lẽ xóa tên ra khỏi “câu lạc bộ” những nước Á Châu bị coi là đang đe dọa đến nền an ninh của thế giới, trong đó có Hoa Kỳ và các quốc gia Âu Châu – đặc biệt là Anh và Pháp, là những nước mà, mãi cho tới thập niên 1950, vẫn còn duy trì chế độ thực dân tại nhiều vùng đất ở Á Châu.

Khi Cộng Sản Trung Hoa còn là một quốc gia hùng mạnh nhờ độc tài, đảng trị nhưng khép kín (thời Mao Trạch Đông) cho tới lúc khởi sự canh tân kỹ nghệ và khuếch trương mậu dịch với thế giới bên ngoài nhưng vẫn sống khiêm nhường (thời Đặng Tiểu Bình), các nước Tây phương cùng các quốc gia khác hầu như đã quên bẵng đi ý niệm “họa da vàng” của thời xưa. Và thế giới cũng đã bỏ qua luôn sự thể 28 nước thành viên Liên Hiệp Quốc, dưới quyền lãnh đạo của Hoa Kỳ, từng bị các lực lượng dữ dằn của Trung Quốc – đang hết mình yểm trợ cho Cộng Sản Bắc Hàn – đánh cho xất bất xang bang trong cuộc Chiến Tranh Triều Tiên (1950-1953), rồi đành chấp nhận để cho phe Cộng Sản chiếm giữ nửa phía Bắc của bán đảo Triều tiên từ đó cho đến nay.

Nhưng kể từ khi Tập Cận Bình thay thế Hồ Diệu Bang mà lên cầm quyền tại Hoa Lục (hồi năm 2012) cho tới nay, các nước Tây phương và phần còn lại của thế giới đã bị ám ảnh trở lại, một cách nặng nề hơn, trước cái “họa da vàng” trong thế kỷ trước, một phần do bởi chính sách hiếu chiến và ỷ mạnh hiếp yếu của Trung Quốc và phần khác là do sức phát triển vượt bực và gần như không có gì cản trở nổi của cường quốc này trên cả hai phương diện kinh tế và quân sự. Đến nỗi, ngày nay, cộng đồng thế giới gần như đành lặng lẽ chấp nhận viễn tượng, một ngày kia, Trung Cộng sẽ qua mặt luôn cả Hoa Kỳ, siêu cường Số Một của thế giới sau khi Liên Xô và Cộng Sản Đông Âu tan rã hồi năm 1991.

Sau 100 năm, Trung Quốc đã tiến bộ vượt bực như thế nào

Sau 100 năm, nhất là sau thời kỳ cải cách kinh tế theo hướng thị trường từ thời Đặng Tiểu Bình (1982-1987) trở đi cho tới thời Tập Cận Bình (từ 2012 đến bây giờ), phải nói rằng Hoa Lục dưới quyền cai trị của đảng Cộng Sản Trung Hoa đã tiến bộ vượt bực, hầu như là “lột xác” từ một quốc gia tuy hùng mạnh về quân sự nhưng lại nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế để trở thành một đất nước tân tiến vượt trội các lân bang như Nhật, Nam Hàn và Ấn Độ.

Về mặt kinh tế, Trung Quốc đang có nền kinh tế lớn hàng thứ nhì toàn cầu, với danh hiệu “công xưởng của thế giới” (“world’s manufacturing superpower”) nhờ sức sản xuất ồ ạt hàng hóa giá rẻ bán ra trên các thị trường bốn biển, năm châu. Sau đại dịch COVID-19, trong khi toàn thể thế giới, kể cả Hoa Kỳ và Âu Châu, đang vất vả khôi phục nền kinh tế bị bại liệt của họ, chỉ một mình nền kinh tế của Trung Quốc vẫn vươn lên phát triển hùng mạnh như xưa.

Về mặt khoa học-kỹ thuật, dưới quyền lãnh đạo của Chủ Tịch Tập Cận Bình và đảng Cộng Sản, nền khoa học-kỹ thuật của Trung Quốc đã có những bước tiến bộ làm cho thế giới đâm hoảng. Mặc dù các chuyên gia Trung Quốc thường mang tiếng là ưa đánh cắp khoa học-kỹ thuật của các nước khác, từ máy bay tàng hình F-35 của Mỹ cho tới chiến đấu cơ Su-35 và hỏa tiễn phòng không đời mới S-400 của Nga, nhưng họ là những kẻ cắp thông minh chứ không phải ngu đần như người ta tưởng.

Về kỹ thuật không gian, Trung Quốc chỉ là cường quốc hạng tư, hạng năm hồi những năm đầu của thế kỷ 21, thế mà bây giờ họ đã là cường quốc không gian hạng nhì thế giới chỉ sau Mỹ mà thôi. Trung Quốc hiện có những phi thuyền thám hiểm Sao Hỏa và công trình một mình lắp đặt một trạm không gian có người điều khiển trên quỹ đạo trái đất, chẳng kém gì hai cường quốc không gian gạo cội của thế giới, là Hoa Kỳ và Nga từ thế kỷ trước cho tới nay.

Về mặt quân sự, nếu kể về quân số, Trung Hoa đang có một đạo quân đông đảo nhất thế giới mà không có một quốc gia nào khác sánh được. Hải, Lục, Không Quân của Giải Phóng Quân Nhân Dân Trung Quốc bây giờ được trang bị súng ống và khí giới tối tân hơn nhiều so với thế kỷ trước, kể cả hai hàng không mẫu hạm Liaoning và Shandong cùng các chiến đấu cơ tàng hình FC-31 và các hỏa tiễn “diệt hạm” DF-21D, có khả năng mang đầu đạn nguyên tử, lăm le hủy diệt các hàng không mẫu hạm tới tân của Mỹ.

Mối đe dọa từ Trung Quốc

Không giống như quân đội của nhiều nước khác trên thế giới, quân đội Cộng Sản Trung Hoa không những chỉ giữ nhiệm vụ phòng thủ đất nước mà còn được sử dụng làm công cụ đe dọa các nước khác, kể cả các quốc gia láng giềng như Nhật, Nam Hàn, Úc, Ấn Độ, Việt Nam, và Philippines, ngoài các cường quốc như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức… nếu những nước này dám đe dọa tới những quyền lợi tự vơ vào của Bắc Kinh, như 90% vùng Biển Đông hoặc toàn bộ quần đảo Senkaku – mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư – của Nhật.

Với Hồng Kông và Đài Loan, Trung Quốc đặc biệt “chiếu cố” rất kỹ, bởi vì Hồng Kông là đất của Hoa Lục mới được Anh trao trả lại cho Bắc Kinh cách nay 14 năm, trong khi Đài Loan thì luôn được coi là một tỉnh ly khai của Hoa Lục kể từ năm 1949, khi Tưởng Giới Thạch và chính quyền Trung Hoa Dân Quốc, vì bại trận, phải chạy ra bám trụ tại hòn đảo này.

Ngày 30 Tháng Sáu, 2020, Bắc Kinh đã đơn phương chấm dứt quyền tự trị kéo dài 50 năm của Hồng Kông như đã cam kết lúc Anh trao trả vùng lãnh thổ này lại cho Trung Quốc, và vào ngày 1 Tháng Bảy vừa qua, nhân kỷ niệm 100 năm thành lập đảng Cộng Sản Trung Quốc, ông Tập Cận Bình tuyên bố ưu tiên của Bắc Kinh trong những ngày tới là thống nhất với Đài Loan bằng mọi giá, kể cả đem quân đánh chiếm đảo quốc này.

Với Cộng Sản Việt Nam, dù hai nước từng là thầy trò và đồng chí chiến đấu thời Chiến Tranh Đông Dương (1946-1954) và Chiến Tranh Việt Nam (1960-1975), Trung Quốc vẫn thèm muốn sát nhập vùng đất – từng là các Quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam của họ vào thời phong kiến xa xưa – cho đủ số sáu ngôi sao trên lá cờ của Trung Quốc (gồm các chủng tộc Mãn, Mông, Hồi, Tạng, Việt, và Hán). Nhưng vì những lý do không ai biết được là tại sao Việt Nam lại chưa chịu, cho nên Trung Quốc lâu lâu lại đem quân đánh Việt Nam vài trận, khi thì ngay tại biên giới trên đất liền (1979 và 1984), khi thì ngay trên Biển Đông (1988).

Với Philippines và các nước Đông Nam Á khác thì Trung Quốc lại phối hợp cả hai chiến lược xâm lấn và dọa nạt để buộc các nước, như Philippines, Malaysia, và Indonesia, phải lùi bước trên Biển Đông, nơi họ đòi rằng gần 90% vùng biển này từng thuộc về đất nước Trung Hoa từ đời xửa, đời xưa. Năm 2012, Hải Quân Trung Quốc ra oai đánh chiếm bãi cạn Scarborough từ tay Philippines, và hiện giờ thì lại đang tranh đoạt vùng đá Ba Đầu (Whitsun Reef) trong quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) tại Biển Đông nằm trong lãnh hải của Philippines.

Trung Quốc lâu lâu cũng còn ra lệnh cấm ngư dân các nước quanh Biển Đông, như Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Indonesia, không được bén mảng tới đánh cá tại những vùng mà họ tự cho là thuộc chủ quyền của mình, rồi còn đe dọa cho tàu hải giám của họ nổ súng tàn sát, khiến ai cũng sợ hết.

Vì sao thế giới vẫn chưa tìm ra cách nào để đối phó với Trung Quốc?

Dù sao đi nữa, toàn thể các cường quốc trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, vẫn chưa tìm ra cách nào hữu hiệu để đối phó với mối đe dọa cả về mặt quân sự lẫn về mặt kinh tế từ phía Trung Quốc, mặc dù, sau đại dịch COVID-19 xuất phát từ Vũ Hán, họ cảm thấy vừa ghét vừa sợ Trung Quốc hơn bao giờ hết.

Cho tới giờ phút này, các nước chỉ mới nảy sinh ra ý tưởng thành lập một “Bộ Tứ” (The Quad) gồm Hoa Kỳ, Nhật, Úc, và Ấn Độ để chống lại sức bành trướng của Bắc Kinh trong vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương. Các cường quốc hàng hải ở xa hơn và thường có tàu bè qua lại trên Biển Đông, như Anh, Pháp, Đức, Canada… cũng nói tới một liên minh gì đó để ngăn chặn Trung Quốc độc chiếm Biển Đông rồi làm cản trở hoạt động tự do hàng hải trong vùng này. Tuy nhiên, cho tới nay, chưa có ý niệm nào được nói tới đó thành hình cả.

Có hai lý do chính yếu để giải thích chỗ bế tắc đáng thương này.

Thứ nhất, chính sách toàn cầu hóa (trong giao thương) và lòng tham lam của cải vật chất (do chủ nghĩa vật chất lan tràn) đã trói tay các cường quốc Tây phương, nhất là Hoa Kỳ, không dám hành động chống Trung Quốc trước nỗ lực bành trướng lãnh thổ và thế lực của họ tại vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương, nhất là khi Trung Quốc chưa hề nổ súng bắn vào tàu bè hay binh lính của họ trong vùng.

Thứ nhì, khác với các thế kỷ trước, chiến tranh ngày nay, nếu có xảy ra, thường chỉ là các cuộc chiến tranh ủy nhiệm (proxy war) hoặc chiến tranh giữa một đại cường và một tiểu quốc (cỡ Iraq, Afghanistan hoặc Syria) chứ không thể xảy ra giữa các cướng quốc nguyên tử (cỡ Hoa Kỳ, Trung Hoa hoặc Nga).

Hỏa tiễn Dongfeng 21D của Trung Quốc, với khả năng tiêu diệt các hàng không mẫu hạm tối tân của Mỹ. (Hình: Andy Wong – Pool/Getty Images)

Theo dòng lịch sử, hễ nhân loại càng văn minh, tiến bộ và hưởng thụ khoái lạc vật chất càng nhiều thì họ lại càng cầu an và hèn nhát hơn, dẫn đến kết quả là thế giới ngày nay, dù các nước có bất bình với nhau đến đâu, vẫn phải đổi giận làm vui chứ không dám gây ra đại chiến, tức là thật khó mà có Thế Chiến Thứ Ba sau hai trận thế giới đại chiến đã lỡ xảy ra và gây ra quá nhiều tàn phá, chết chóc và đau thương cho nhân loại hồi tiền bán thế kỷ 20.

Vậy thì, nếu Trung Quốc cứ tiếp tục đà bành trướng của họ như hiện nay mà không có một thế lực nào ngăn chặn thì đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ tồn tại mãi mãi hay sao? Qua bài báo nhan đề “Can the Chinese Communist Party last another 100 years?” (tạm dịch: Liệu đảng Cộng Sản Trung Quốc có khả năng tồn tại thêm 100 năm nữa hay không?) ký giả Sophia Yan, trong bài viết trên tờ The Telegraph của Anh ngày 30 Tháng Sáu, 2021, tức chỉ một ngày trước khi đảng Cộng Sản Trung Quốc tưng bừng kỷ niệm 100 năm ra đời và sống hùng, sống mạnh cho tới bây giờ, đã kết luận rằng: “Đảng Cộng Sản Trung Quốc, rất có thể, sẽ tồn tại thêm 100 năm nữa, bởi vì họ vẫn cương quyết đạt tới mục tiêu này đó mà.” (Vann Phan) [qd]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT