Quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ trong chuyến thăm Hà Nội của bà Harris

Vann Phan/Người Việt

SANTA ANA, California (NV) – Từ ngày 24 đến 26 Tháng Tám, 2021, sau khi kết thúc chuyến công du Singapore, Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Kamala Harris đã chính thức viếng thăm Việt Nam để bàn việc gia tăng mối quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, hai kẻ cựu thù trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam hồi thế kỷ trước.

Phó Tổng Thống Mỹ Kamala Harris (trái) gặp Chủ Tịch Nước Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc tại Hà Nội, ngày 25 Tháng Tám, 2021. (Hình: Manan Vatsyayana/Pool Photo via AP)

Vị nữ phó tổng thống Mỹ đã khá bận rộn với những hoạt động ngoại giao trong chuyến công du được cả thế giới quan tâm theo dõi trong bối cảnh tình hình Biển Đông ngày một nghiêm trọng. Trung Quốc đang thực hiện các hoạt động độc chiếm vùng biển này để làm thành cái ao nhà của mình, trong khi Hoa Kỳ, Nhật, Nam Hàn, Ấn Độ, Úc… cùng các quốc gia Tây phương thì cứ lo sợ về viễn ảnh quyền tự do hàng hải trên thủy lộ huyết mạch này từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương sẽ bị gián đọan một khi biên thùy của nước Cộng Sản khổng lồ này được nới rộng thêm cho tới toàn thể Biển Đông.

Hoạt động của Phó Tổng Thống Harris tại Việt Nam

Ngày 25 Tháng Tám, Bà Harris đã mở các cuộc hội đàm với Chủ Tịch Nước Nguyễn Xuân Phúc và Thủ Tướng Phạm Minh Chính về vấn đề nâng cấp mối quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam từ “đối tác toàn diện” lên “đối tác chiến lược” và việc gia tăng áp lực lên Bắc Kinh để họ từ bỏ chính sách bắt nạt các nước láng giềng cùng với yêu sách hàng hải quá mức của họ tại Biển Đông.

Bà Harris hứa sẽ giúp đẩy nhanh tiến trình chuyển giao vaccine ngừa COVID-19 mà Việt Nam đã đặt mua của hãng Pfizer cũng như sớm kết thúc tiến trình tẩy độc phi trường Biên Hòa khỏi chất độc màu da cam (để lại từ cuộc chiến tranh hồi thế kỷ trước) mà Hoa Kỳ đã khởi sự từ mấy năm qua. Nhân dịp này, vị phó tổng thống Mỹ cũng thông báo Hoa Kỳ tặng không cho Việt Nam một triệu liều vaccine Pfizer nữa, thêm vào con số ba triệu liều thuốc đã giao cho Việt Nam trước đây.

Buổi chiều cùng ngày, Phó Tổng Thống Harris tham dự lễ ra mắt Văn Phòng Đông Nam Á của Trung Tâm Phòng Ngừa và Kiểm Soát Bệnh Tật Mỹ (CDC) tại Hà Nội. Kế đó, bà Harris đến chủ tọa lễ ký hợp đồng thuê đất để xây dựng trụ sở mới của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội.

Thủ Tướng Việt Nam Phạm Minh Chính tiếp Phó Tổng Thống Mỹ Kamala Harris vào sáng 25 Tháng Tám, 2021. (Hình: Evelyn Hockstein/Pool Photo via AP)

Ngày 26 Tháng Tám, phó tổng thống Mỹ đã thực hiện cuộc gặp gỡ các đại diện xã hội dân sự Việt Nam tại Hà Nội, gồm ông Chu Thanh Hà (thay mặt người chuyển giới), bà Nguyễn Thị Lan Anh (thay mặt người khuyết tật), bà Đỗ Vân Nguyệt (thay mặt giới môi trường), và ông Đoàn Thanh Tùng (thay mặt giới LGBT).

Buổi chiều cùng ngày, vị thượng khách Mỹ đã mở một cuộc họp báo ngắn chừng 20 phút để tổng kết chuyến thăm của bà tại Việt Nam và trả lời một số câu hỏi của báo chí truyền thông Việt Nam và quốc tế. Nhân dịp này, Phó Tổng Thống Harris cho biết bà đã nói chuyện với các nhà lãnh đạo CSVN về việc trả tự do cho những phần tử bất đồng chính kiến tại Việt Nam, nhưng không cho biết kết quả của các cuộc trò chuyện đó ra sao.

Vì sao Mỹ coi trọng việc nâng cấp quan hệ ngoại giao với Cộng Sản Việt Nam?

Câu hỏi được đặt ra ở đây là vì sao phía Mỹ lại coi trọng việc nâng cấp quan hệ ngoại giao với Cộng Sản Việt Nam đến thế vào lúc này. Ngoài mục đích thường lệ là thắt chặt tình hữu nghị giữa hai quốc gia cựu thù trong Chiến Tranh Việt Nam, vị phó tổng thống Mỹ không giấu giếm mong muốn của Hoa Kỳ rằng Việt Nam hãy nhanh chóng đứng chung chiến tuyến với Mỹ để chống Cộng Sản Trung Quốc giữa lúc họ đang đẩy mạnh kế hoạch độc chiếm Biển Đông đã khởi diễn từ hai, ba thập niên nay.

Mà muốn Việt Nam cùng đứng chung chiến tuyến với Mỹ trên mặt trận này thì cách tốt nhất là cả hai nước phải nâng cấp quan hệ ngoại giao từ mức “quan hệ toàn diện,” dẫu sao cũng quá tổng quát và mơ hồ, lên mức “quan hệ chiến lược,” cho nó có tính cách cụ thể và thân thiết hơn trước mối lo ngại chung về sức bành trướng lãnh thổ của nước Cộng Sản lớn nhất thế giới này.

Tuy nhiên, các quan sát viên quốc tế ghi nhận rằng hiện không có chỉ dấu nào cho thấy Hà Nội sẵn sàng đáp ứng kỳ vọng đó của Washington.

Vì sao phía Việt Nam vẫn tiếp tục “ỡm ờ?”

Thái độ “ỡm ờ” này của Hà Nội trong việc đáp ứng yêu cầu nâng cấp quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ có thể là do nhiều yếu tố tạo nên.
Thứ nhất, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc không rõ ràng. Tuy cả hai nước, kể từ năm 1979 đến nay, đã nhiều lần đánh nhau chí tử, cả trên bộ lẫn ngoài biển, thế giới bên ngoài chớ thấy vậy mà bảo rằng Cộng Sản Việt Nam sẽ quyết liệt đánh trả một khi xung đột xảy ra về vấn đền Biển Đông hay các vùng lãnh thổ trên đất liền.

Thực tế cho thấy, vì cùng chung ý thức hệ Cộng Sản, Việt Nam chỉ phản đối chiếu lệ khi Trung Quốc đơn phương cấm ngư dân Việt Nam đánh cá tại nơi này, chỗ nọ trên Biển Đông hay tuyến bố cấm cả Hải Quân lẫn ngư dân Việt Nam không được bén mảng tới những khu vực mà họ tập trận. Rồi chuyện Việt Nam rút êm các giàn khoan dầu ra khỏi khu vực khai thác dầu khí trên vùng biển này chỉ vì Bắc Kinh nhận vơ là thuộc chủ quyền của họ… cũng cho thấy Cộng Sản Việt Nam không thực tình chống Trung Quốc.

Ngày 25 Tháng Tám, khi Phó Tổng Thống Kamala Harris đang thăm Việt Nam, cũng là kỷ niệm ba năm ngày mất của Thượng Nghị Sĩ John McCain, một cựu tù binh trong Chiến Tranh Việt Nam và về sau trở thành người có đóng góp lớn cho mối quan hệ Mỹ-Việt. Bà Harris đã đặt hoa tại bia tưởng niệm ông bên hồ Trúc Bạch, Hà Nội. Năm 1967, chiếc máy bay A-4E Skyhawk mà ông lái bị bắn rơi xuống hồ Trúc Bạch, và ông McCain bị bắt sau đó. (Hình: Evelyn Hockstein/Pool Photo via AP)

Có thể nói rằng chuyện Việt Nam chống Trung Quốc xâm lược trên Biển Đông chỉ có tính hình thức nhằm giữ thể diện quốc gia mà thôi, chứ thật sự Việt Nam không hề dám quyết liệt đánh trả lại Trung Quốc, bởi vì cán cân sức mạnh quân sự giữa hai bên chênh lệch nhau quá lớn.

Thứ nhì, Hà Nội rất sở trường chuyện đu dây giữa hai thế lực thù địch nhau để hưởng lợi. Suốt ba thập niên, từ 1960 đến 1990, Cộng Sản Việt Nam vẫn không dám ngả về bên nào cả giữa lúc Liên Xô và Trung Quốc có những xung đột dẫn tới đánh nhau, cả về chủ nghĩa Cộng Sản lẫn về biên giới và lãnh thổ, chỉ vì Hồ Chí Minh và các lãnh tụ Cộng Sản kế nghiệp luôn muốn được nhận viện trợ từ cả hai đàn anh từ khi cuộc Chiến Tranh Việt Nam khởi đầu cho tới khi kết thúc. Ngày nay, giữa lúc Hoa Kỳ và Trung Quốc đang kình chống nhau từ vấn đề thương mại cho tới vấn đề Biển Đông, Cộng Sản Việt Nam cũng chẳng dại gì mà về phe với ai, nhất là khi Hoa Kỳ đang tỏ ra hết sức hào phóng trong những món viện trợ giúp Việt Nam nhằm phục vụ cho nỗ lực ve vãn và dụ dỗ Việt Nam về phe với mình để chống Trung Quốc.

Thứ ba, vì đang là con nợ thâm căn và đang rất cần tiền bạc do phía Trung Quốc cung cấp để lấp bớt cái lỗ hổng ngân sách quốc gia ngày càng thâm hụt, Việt Nam rất sợ Trung Quốc nổi giận nếu quá thân với Hoa Kỳ. Có thể ví mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam với tình cảnh của một anh chồng hung dữ và độc đoán trước một cô vợ yếu thế và luôn phải tùy thuộc chồng. Ca dao Việt Nam vẫn có câu: “Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê.”

Thứ tư, hiện Cộng Sản Việt Nam rất cô đơn, chỉ vì bản Hiến Pháp Việt Nam cấm ngặt họ liên minh với nước này để chống lại nước kia. Rất có thể rằng Bắc Kinh đã ép Hà Nội phải đưa điều khoản này vào văn kiện pháp luật tối cao của đất nước để phòng khi Việt Nam cầu viện nước ngoài mà chống Trung Quốc trong trường hợp chiến tranh xảy ra.

Điều này cũng giống y như sự kiện Trung Quốc buộc Việt Nam phải ban hành luật trao trả ngay những ai có quốc tịch Trung Quốc về cho nhà cầm quyền Bắc Kinh xét xử, với mục đích che chở cho những người Việt Nam nào có thêm quốc tịch Trung Quốc, kể cả bộ đội và công an, một khi những thành phần này thông đồng với Trung Quốc mà chống lại nhà nước Việt Nam.

Thay lời kết

Hôm 25 Tháng Tám, trả lời cuộc phỏng vấn của đài BBC Việt Ngữ về chuyện Việt Nam vẫn chưa đồng ý nâng cấp quan hệ ngoại giao với Mỹ lên hàng “đối tác chiến lược” ngay cả khi có chuyến thăm Hà Nội của Phó Tổng Thống Mỹ Kamala Harris, nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Phương thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế, Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn ở Sài Gòn, cho rằng nguyên nhân chính yếu là do Hà Nội luôn coi an ninh nội bộ là chính yếu và an ninh Biển Đông là thứ yếu, tức là sự sống còn của đảng Cộng Sản Việt Nam luôn quan trọng hơn sự tồn tại của các vùng biển đảo tại Biển Đông.

Phó Tổng Thống Mỹ Kamala Harris (trái) trao đổi với ông Đặng Đức Anh, viện trưởng Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương ở Hà Nội, trong chuyến thăm trưa 26 Tháng Tám, 2021, khi 1 triệu liều vaccine Pfizer Mỹ viện trợ thêm đã về tới Việt Nam. (Hình: Evelyn Hockstein/Pool Photo via AP)

Ông Phương viết như sau: “Theo quan điểm của chính quyền thì mối thách thức an ninh lớn nhất là an ninh đối nội, tức sự ổn định của nhà nước, tính độc tôn của đảng là thứ mà Việt Nam cho là lớn nhất. Trong khi đó, vấn đề chủ quyền lãnh thổ dù cũng rất quan trọng, nhưng lại đứng hàng thứ hai. Yếu tố an ninh đối nội được đặt lên hàng đầu và Việt Nam coi đối tượng lớn nhất trong vấn đề này là Mỹ. Khi coi Mỹ là đối tượng lớn nhất, thì rõ ràng Việt Nam không thể tăng cường mối quan hệ quá nhanh với Mỹ và phải nhìn về phía Trung Quốc như một yếu tố cân bằng… Cũng vì lẽ đó, khi phân bổ ngân sách, an ninh và công an sẽ được chi tiền rất nhiều và quân đội sẽ bị mất đi một phần nguồn lực để hiện đại hóa”…

Nếu lập trường của nhà nước Cộng Sản Việt Nam là như thế thì người ta có thể nói: “Đảng Cộng Sản Việt Nam còn, đất nước còn; Đảng Cộng Sản Việt Nam mất, đất nước mất.” Thật là trái ngược với câu nói sau đây của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thời Chiến Tranh Việt Nam: “Đất nước còn, còn tất cả; đất nước mất, mất tất cả.” (Vann Phan) [qd]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT