Vann Phan/Người Việt
SANTA ANA, California (NV) – Cuộc rút lui hối hả và gặp nhiều trở ngại của Hoa Kỳ cùng các đồng minh trong Khối NATO khỏi Kabul hồi Tháng Tám vừa qua, một lần nữa, cho thế giới thấy chiều hướng “phản bội đồng minh” của siêu cường Hoa Kỳ từ sau cuộc Chiến Tranh Việt Nam (1960-1975) đến nay.

Sau miền Nam Việt Nam, đến năm 1990, Hoa Kỳ lại bị coi là đã “phản bội” các đồng minh người Kurds ở Bắc Iraq và người Marsh Arabs ở Nam Iraq vào lúc kết thúc cuộc Chiến Tranh Vùng Vịnh (Gulf War), giải phóng Kuwait khỏi cuộc chiếm đóng của Iraq thời Saddam Hussein.
Những lần “phản bội đồng minh” của Hoa Kỳ sau Việt Nam
Chính quyền của Tổng Thống George H.W. Bush (Bush Cha) đã khuyến khích hai nhóm sắc tộc nói trên nổi dậy chống Saddam và hứa sẽ tiếp tay yểm trợ cuộc nổi dậy của họ, nhưng sau đó lại lờ đi, khiến cho hai nhóm này bị lực lượng chính phủ Iraq đàn áp thê thảm.
Đến năm 2011, tới lượt ông Shakil Afridi, vị bác sĩ Pakistan, được cơ quan Tình Báo Trung Ương Mỹ (CIA) xúi giục mở một chiến dịch chích ngừa dịch tại Abbottabad (bên trong lãnh thổ Pakistan) để nhân đó lấy mẫu DNA của Osama bin Laden nhằm xác nhận rằng kẻ chủ mưu cuộc tấn công ngày 11 Tháng Chín, 2001, vào Mỹ đang ẩn núp tại Abbottabad.
Ngày 2 Tháng Năm, 2011, biệt kích quân Mỹ đã bay vào Abbottabad và giết chết bin Laden tại đây. Nhưng khi ông Shakil Afridi bị Pakistan trả thù và bắt giam, chính quyền Obama lúc bấy giờ không hề can thiệp để gỡ tội cho vị bác sĩ từng giúp Mỹ trong việc việc truy tầm và thanh toán bin Laden.
Rồi đến năm 2019, Hoa Kỳ dưới thời Tổng Thống Donald Trump lại “phản bội” đồng minh người Kurds của họ tại Syria khi quân Mỹ được lệnh rút ra khỏi khu tự trị của người Kurds ở vùng biên giới Syria-Thổ Nhĩ Kỳ, để mặc cho nhóm kháng chiến đang giúp Hoa Kỳ chống quân khủng bố ISIS bị Thổ Nhĩ Kỳ tàn sát, bởi vì chính quyền Erdogan tại Ankara luôn coi người Kurds bên trong Thổ Nhĩ Kỳ và tại phía Bắc Syria là quân khủng bố.
Theo tác giả Girish Shahane, trong bài báo nhan đề “How the United States can be trusted to betray its allies” trên trang mạng sctoll.in ngày 9 Tháng Mười, 2019, những vụ “phản bội đồng minh” như thế của Hoa Kỳ đã xảy ra từ lâu.
Tức là từ năm 1778, khi thuộc địa cũ của Anh, vì cần sự giúp đỡ của người Da Đỏ Delaware tại Lenape Nation để đánh nhau với quân thực dân Anh, đã hứa với thủ lãnh Koquethagechton là sẽ để cho nước Lenape được tự trị nếu vị thủ lãnh này giúp quân Mỹ tấn công vào pháo đài Fort Detroit, nhưng sau đó người Mỹ lại ám sát ông Koquethagechton để khỏi nhìn nhận quyền tự trị của người Da Đỏ Delaware.
Mỹ “phản bội đồng minh” hay “không thể giúp mãi người bạn đồng minh”?
Câu hỏi được đặt ra ở đây là phải chăng thật sự Mỹ đã “phản bội đồng minh” hay chỉ vì họ “không thể giúp mãi người bạn đồng minh” của mình lúc tình hình tới lúc tệ hại.
Trong cả hai trường hợp của Việt Nam Cộng Hòa hồi thế kỷ trước và Afghanistan hiện nay, phải chăng dư luận quốc tế đã quá lời khi bảo rằng Hoa Kỳ đã “phản bội đồng minh” khi bỏ rơi Sài Gòn và Kabul vào tay quân địch, nếu xét đến những cố gắng lớn lao mà quân đội và chính quyền Mỹ đã bỏ ra để bảo vệ miền Nam Việt Nam khỏi tay quân Cộng Sản xâm lược và Afghanistan khỏi tay quân Taliban?
Ngoài sự kiện cho thấy người Mỹ đã “hết lòng với đồng minh” tại hai phương trời cách biệt này mà vẫn không xoay chuyển nổi tình thế còn có yếu tố “kẻ cam kết” với đồng minh và “kẻ phản bội” đồng minh là hai người khác nhau và hành động trong hai thời điểm khác nhau.
Trong trường hợp Việt Nam Cộng Hòa, “kẻ cam kết” giúp chính quyền Sài Gòn chống đánh quân Cộng Sản Bắc Việt xâm lược là các tổng thống John F. Kennedy, Lyndon Johnson, và Richard Nixon, và “kẻ phản bội” đồng minh là Tổng Thống Gerald Ford, người kế vị Nixon (sau khi ông này phải từ chức vì vụ bê bối Watergate hồi năm 1974).
Đó là chưa kể Tổng Thống Ford đã bị Quốc Hội Hoa kỳ trói tay khi cơ quan lập pháp này không chịu chi tiền viện trợ quân sự và kinh tế nữa cho Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục cuộc chiến tranh để chờ các nguồn tài trợ khác, như của Ả Rập Saudi hoặc Pháp, hoặc từ nguồn dầu hỏa sẵn có ngoài khơi Miền Nam Việt Nam nhưng chưa kịp khai thác…
Còn trong trường hợp Afghanistan, “kẻ cam kết” giúp đỡ chính quyền Kabul là Tổng Thống George W. Bush (Bush Con) và Barack Obama, và kẻ “phản bội đồng minh” là Tổng Thống Donald Trump và Tổng Thống Joe Biden khi hai nhà lãnh đạo này thấy cần phải chấm dứt cuộc chiến tranh nhì nhằng này tại vùng Tây Nam Á sau 20 năm tốn của, hao người mà vẫn không thấy triển vọng lúc nào thì Hoa Kỳ có thể ca khúc khải hoàn.
Vậy thì, phải chăng người ta có thể nói rằng, tuy mang tiếng là “phản bội đồng minh,” sự thật thì Hoa Kỳ phải “bỏ rơi” những người bạn đồng minh tại miền Nam Việt Nam và Afghanistan chỉ là vì họ “không thể giúp mãi người bạn đồng minh” một khi đối phương, cho dù không hùng mạnh hơn, lại có khả năng kéo dài cuộc chiến tranh đến vô cùng, vô tận khiến Hoa Kỳ không thể nào kham nổi?
Lý do dẫn tới việc Hoa Kỳ “phản bội đồng minh”
Các lý do sau đây có thể giải thích sự thể Hoa Kỳ cứ mang tiếng là “phản bội đồng minh”:
Thứ nhất, các chính sách của Hoa Kỳ luôn thay đổi, và chính phủ kế nhiệm không bị buộc phải giữ vững cam kết của chính phủ trước. Hệ thống lưỡng đảng tại Hoa Kỳ, nền dân chủ mẫu mực của thế giới, cho phép hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ thay phiên nhau cầm quyền với các đường lối và chính sách không giống nhau, và có khi lại còn khác biệt nhau một trời, một vực. Hậu quả là mặc dù chính quyền trước đó có cam kết với ai điều gì đi nữa thì chính quyền kế tiếp vẫn có thể không tiếp tục thi hành cam kết này, nhất là khi không có một hiệp ước song phương nào được ký kết giữa Hoa Kỳ và nước bạn (kể cả trường hợp của Việt Nam Cộng Hòa và Afghanistan, đừng nói chi đến trường hợp của người Kurds tại Iraq và Syria).
Thứ nhì, để cầm quyền lâu dài hơn hoặc ngay cả để tồn tại, các đảng phái Mỹ cần lá phiếu của cử tri nhiều hơn là nhu cầu theo đuổi một chính sách đúng đắn cho đất nước. Dân Mỹ hồi thế kỷ trước không hề tin rằng sự tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa là thiết yếu để chống lại tham vọng độc chiếm Biển Đông hoặc bá chủ hoàn cầu của Trung Quốc.
Dân Mỹ ngày nay không thấy nước Mỹ cần phải tiếp tục ở lại Afghanistan sau khi đã đánh đuổi quân Taliban và đưa một chính quyền dân chủ thân Mỹ lên cầm quyền tại Kabul hồi năm 2001, hoặc ngay sau khi bin Laden đã bị tiêu diệt hồi năm 2011. Đó là chưa nói tới chuyện đa số cử tri Mỹ không thấy Hoa Kỳ cần thiết phải truyền bá nền dân chủ kiểu Tây phương hoặc ý niệm nam, nữ bình quyền và tôn trọng giới tính cho dân Hồi Giáo tại Afghanistan, dù họ thuộc hệ phái Sunni hay Shi’ite.
Thứ ba, phải nói rằng, khác với người Á Đông hay ngay cả với dân Âu Châu, bản tính người Mỹ là thực dụng (pragmatic), vì thế họ ít coi trọng chuyện phải chung thủy với nhau cho đến chết nếu cái “tánh tốt” đó không đem lại lợi ích thực tế nào cho đời mình. Thông thường, người Mỹ ít bị lương tâm cắn rứt hơn các dân tộc khác khi phải dứt bỏ một tình yêu hay một tình bạn nào đó, chỉ vì thấy nó không còn hấp dẫn hay có lợi cho mình nữa.
Thay lời kết
Dù đã xảy ra chuyện đáng tiếc tại miền Nam Việt Nam trước đây và Afghanistan bây giờ, người ta không thế cứ trách móc nước Mỹ hay người Mỹ mãi khi xét thấy các nước đồng minh của Mỹ, từ Âu Châu cho tới Á Châu-Thái Bình Dương, không ai có đủ khả năng và thiện chí thay thế Mỹ để cứu giúp các quốc gia nhỏ yếu trước nanh vuốt bạo tàn hoặc làm “sen đầm quốc tế” đặng giữ gìn trật tự thế giới cho yên ổn mãi.
Nhận định này càng dễ hiểu hơn khi nước Mỹ và dân tộc Mỹ đã làm hết sức mình cũng như đã hao tổn quá nhiều tiền bạc và sinh mạng của những chàng trai thế hệ để che chở cho các dân tộc bị cường quyền hiếp đáp tại nhiều nơi trên thế giới, có khi kéo dài suốt cả mấy chục năm trời.
Rốt cuộc, chỉ có các chế độ độc tài – như Cộng Sản chẳng hạn – là đủ sức giữ vững các cam kết của họ, cho dù với các đối tượng không mấy hiền lành, cỡ Cộng Sản Bắc Hàn của Kim Jong Un hay Venezuela của Nicolas Maduro. Trong các chế độ độc tài nói trên, chính quyền không cần phải thay đổi chính sách làm gì, chỉ đơn giản vì họ không bao giờ cần tới lá phiếu của cử tri để tồn tại hoặc cai trị suốt đời.

Một câu hỏi được nêu lên ở đây là phải chăng Hoa Kỳ đã “thua trận” tại Việt Nam hoặc tại Afghanistan nên mới dẫn tới chuyện họ “phản bội đồng minh” sau những cuộc “tháo chạy” từ Sài Gòn cho tới Kabul?
Nếu xét về mặt thực tế về tương quan lực lượng giữa siêu cường Mỹ và các lực lượng, cỡ Cộng Sản Bắc Việt hồi năm 1975 và phe Taliban bây giờ, thì rõ ràng không phải là Hoa Kỳ đã thua trên chiến trường mà đúng ra là thua tại chính trường, khi các chính trị gia tại Washington mới là kẻ quyết định Mỹ nên ở lại hay nên rút khỏi những nơi mà họ đã đặt chân đến để bảo vệ hoặc xây dựng.
Có lẽ chỉ có những kẻ quá hợm hĩnh và tự phụ, cỡ Cộng Sản Việt Nam, Cộng Sản Cuba và Cộng Sản Trung Quốc, mới cho rằng Mỹ đã “thua trận” nên mới phải rút lui khỏi Sài Gòn và Kabul mà thôi. (Vann Phan) [qd]



























































































