Cậu Út của tôi, nghệ sĩ Mai Thành

Phụng Linh

Con không biết phải mở đầu như thế nào, để ghi lại những giòng tâm tư của đứa cháu phương xa không thể kề cận cậu trong lúc tuổi già sức yếu. Cả tin cậu mất con cũng không thể giấu nhẹm để người chị duy nhất còn lại của cậu không quá đỗi đau lòng.

Cố Nghệ Sĩ Mai Thành và các cháu. (Hình: Phụng Linh)

Sáng sáng má con, chị sáu của cậu đọc kinh cầu siêu để cầu nguyện ơn trên đón cậu về cõi vĩnh hằng, siêu thoát, an nhàn. Con xin được hiệp lực cầu nguyện và con tin cậu đang vui cười mãn nguyện. Các con cháu của cậu hãnh diện vì có một người cha, người cậu, người bác xứng đáng là một nghệ sĩ chân chính cho đến lúc cuối đời.

Cậu rời quê nhà Bến Tre, rời mái gia đình của ông bà ngoại một mực cưng chiều vì là con út của gia đình 14 người con. Cậu nương náu gia đình ba má tôi, anh chị sáu của cậu, trở thành người “giữ em,” chăn dắt tôi và hai đứa em trai kế.

Chúng tôi may mắn có được “người bảo mẫu” bất đắc dĩ đầy lòng nhân từ, thương yêu săn sóc các cháu nhỏ. Cậu thay ba má lo hồ sơ cho tôi nhập học trường mẫu giáo, trường trung học tư thục.

Không ai bảo, tôi lấy tập cũ của cậu để tập đồ, nắn nót từng giòng chữ viết của cậu, dù lúc đó không hề biết con chữ a, b, c nào. Chúng tôi có được những ngày vui chơi, từ sở thú đến vườn bờ rô… an toàn cùng với cậu.

Mang giòng máu nghệ sĩ của gia đình, cậu thi đậu vào trường Quốc Gia Âm Nhạc khoa Kịch Nghệ. Vào đầu thập niên 1960, cải lương miền Nam vào thời hưng thịnh, cậu thường dắt tôi theo dự các buổi họp mặt, thuyết trình của trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ.

Tôi còn nhớ, thường đứng trong hậu trường mê mẫn nhìn các nghệ sĩ đoàn Thanh Nga “sắm tuồng.” Cậu đưa tôi và em trai kế vào học lớp ca xướng và đàn tranh. Suýt nữa, tôi trở thành “đào” cải lương, nếu không thi đậu vào trường nữ học Gia Long năm 1963.

Cậu út tốt nghiệp thủ khoa khoá 1 kịch nghệ cùng với cô Hương Xuân, rồi trở thành giảng viên trường Kịch Nghệ. Cậu lập gia đình, ra ở riêng. Chỉ đến lúc đó, đàn cháu mới rời khỏi vòng tay săn sóc của cậu.

Nhưng nhà của cậu chỉ cách nhà ba má tôi một quãng đường rất ngắn. Bà ngoại từ Bến Tre lên, thường đi qua, đi lại nhà má tôi và nhà cậu út để trông em cho cả hai gia đình khi má tôi và mợ út cùng nở nhuỵ khai hoa.

Sau năm 1975, gia đình tôi rơi vào tình huống khó khăn chưa từng có thì cậu lúc nào cũng ở bên cạnh. Cậu đi tìm để mang về đứa em trai thứ năm của gia đình tôi đăng lính Biệt Kích Dù trong những ngày tháng cuối cùng của quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Cậu có mặt trong tất cả mọi sự kiện vui, buồn của gia đình họ Võ chúng tôi, làm chủ hôn tất cả mọi lễ cưới, lễ hỏi của các cháu gọi cậu, gọi chú, cho đến các cháu gọi ông.

Cậu có giọng nói sang sảng của gia đình ngoại. Ai cũng nói lớn tiếng, lớn giọng, nhưng lời lẽ luôn mộc mạc, chân tình. 

Mỗi lần về Việt Nam, chúng tôi đều có dịp đi thăm quê hương Bến Tre, dừng lại quán hủ tíu nổi tiếng ở công trường trung tâm thành phố. Không bao giờ thiếu cậu trong các chuyến đi, cậu luôn luôn ồn ào kể chuyện, trêu chọc hết người nọ đến người kia.

Tôi biết tin cậu mất khoảng ba tiếng đồng hồ sau khi cậu trút hơi thở cuối cùng. Chúng tôi im lặng nhiều ngày sau, để không ồn ào khuấy động dư luận đang quá căng thẳng vì đại dịch, vì hàng chục ngàn bệnh nhân COVID-19 chết ở Việt Nam, vì hơn năm triệu người chết vì COVID-19 khắp thế giới. Và cũng vì không muốn má tôi biết tin mà đau buồn, thương tiếc người em mà má thương yêu nhất trong gia đình. Nhưng cuối cùng vẫn không giấu được.

Giữa đêm, khoảng hai, ba giờ sáng, tôi vẫn nghe tiếng thở dài não nuột của má. Tôi biết má trằn trọc không ngủ được. Chờ đến sáng, má tụng kinh, cầu nguyện cho hương linh cậu sớm về cõi vĩnh hằng. Má tin “phải tụng thì cậu mới nhẹ nhàng ra đi.”

Tôi đau với nỗi đau của má, nhưng sự mất mát ở tôi khó có gì khỏa lấp. Thời gian, như người ta thường nói? Có gì để đo được nỗi dằn vặt ở đứa cháu đang sống tha phương, khi không có cậu đi cùng trong những chuyến về thăm quê Bến Tre? Ai sẽ cười, ai sẽ trêu, ai mau mau chạy từ đường Trần Quốc Toản đến nhà ở đường Phan Đình Phùng để thăm chị sáu? Chỉ có cậu là người quyết liệt bảo tôi “một đi, hai không trở lại.”

Tôi không quen với mỹ từ mà người đời gọi cậu-nghệ sĩ Mai Thành. Tôi quen gọi cậu út gần gũi, quen thuộc.

Có lần trên đường về lại Sài Gòn sau chuyến viếng cha Trương Bửu Diệp ở Bạc Liêu, chúng tôi ghé lại mua bánh pía ở một cửa hàng nổi tiếng. Người bán hàng nhìn cậu chầm chập, thốt lên: “Ủa, ông già…mì Hảo Hảo.” Cậu cười xác nhận, và người bán hàng năn nỉ cậu nhận hộp bánh làm quà kỷ niệm. 

Cậu út được nhiều người biết trong các vai đóng ông già tóc râu bạc trắng. Nhưng cậu không bao giờ là thành viên của các hội Văn Nghệ Sĩ, Điện Ảnh, Sân Khấu, cũng chỉ là nghệ sĩ “quèn” chứ không “leo” lên tới “Nghệ sĩ ưu tú,” “Nghệ sĩ nhân dân.”

Tôi biết có người “xót xa” vì đám tang của cậu lèo tèo vài người tiễn đưa, thua các nghệ sĩ có tuổi nghề ngắn so với cậu. Nhưng có lẽ không ai biết, cậu từng là nhân vật tích cực lèo lái chương trình văn nghệ phát triển nông thôn của Bộ Dân Vận Việt Nam Cộng Hòa, của Trung Tâm Văn Hóa Mỹ ở Sài Gòn trước 1975…Lại càng ít ai biết cậu đã thẳng thắn từ chối lời đề nghị làm đơn xin được tặng thưởng danh hiệu “Nghệ sĩ nhân dân” của giới chức thẩm quyền ngành văn hoá thông tin Sài Gòn.

Trong một chuyến đi khoảng năm 2012, cậu tâm sự với tôi: “Năm 1975, cán bộ tiếp quản trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ nói ngon ngọt rằng sẽ cho phép nhà trường sử dụng lại các tiểu phẩm của cố nghệ sĩ Nguyễn Thành Châu, thầy Duy Lân, cô Bảy Phùng Há và những thầy khác để giảng dạy và để các em tập dợt. Thế nhưng đến cuối năm 1975 thì mấy ông cắt hết, không cho sử dụng kể cả trong các kỳ thi tốt nghiệp. Thay vào đó, họ đưa tiểu phẩm của người Hà Nội vào thay thế.

Cậu có linh tính rằng “xong rồi,” thế là kết thúc nền cải lương hàng chục năm của miền Nam Việt Nam. Cậu hỏi vì sao thì mấy ông nói rằng “chế độ nào có nền văn hoá của xã hội đó,” và khẳng định rằng xã hội cộng sản “không sử dụng nền cải lương và âm nhạc Sài Gòn cũ.”

Cậu nói “chết rồi,” vậy là cải lương Việt Nam Cộng Hòa không còn cửa để sống. Vì vậy mà cậu quyết định bỏ lớp, bỏ trường và ở nhà nhảy qua ngành kịch nói, kiếm nghề khác làm việc để kiếm cơm nuôi con, bỏ nghề nghiệp mà cậu đã từng gắn bó, đam mê, thích thú và hạnh phúc trong suốt thời gian từ 1964 đến 1975.

Đến sau này, hoạt động cải lương xuống dốc, giới chức thẩm quyền ngành văn hoá văn nghệ Sài Gòn bắt đầu xài lại tuồng của Hà Triều Hoa Phượng thì đã muộn. Người dân ê chề, não nề, ngoảnh mặt với nghệ thuật cải lương, thiệp mời cũng không đi, nói gì mua vé bên ngoài. Từ đó, cậu không bao giờ rớ tới cải lương.

Biết trước rằng nếu còn tiếp tục giảng dạy ở trường lúc này đã đổi tên thành trường Nghệ Thuật Sân Khấu là lún dần vào sự thất bại, và cảm thấy sỉ nhục cho nền nghệ thuật cải lương miền nam Việt Nam. Cậu nghĩ, nếu vì miếng cơm manh áo mà trở thành tay sai của chế độ, thì bạn bè sẽ không coi cậu ra gì. Đời người chỉ sống có một lần, sống sao cho khỏi hỗ thẹn, để nhắm mắt xuôi tay mà không hề thấy tủi nhục. Không chấp nhận sống hèn.

Giờ thì tôi hiểu ra, thảo nào từng có lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam nói với tôi “phải dẹp bỏ ngành cải lương miền Nam Việt Nam bi ai, thảm sầu.”

Cậu út tôi, Mai Thành–Võ Văn Thiêm ra đi, theo ông theo bà với nụ cười mãn nguyện. 

Santa Ana, California, Dec 19, 2021

[disqus_shortcode_codeable]

Ông Martino Bùi Duy Tân

Ông Trần Văn Đệ

Phật Tử Phạm Đình Mai

Ông Nguyễn Văn Đước

Bà Lê Thị Như Loan

Bạn Giuse Đào Đức Long

Bà Lê Thị Như Loan

Maria Nguyễn Thị Hồng Tước (3)

Maria Nguyễn Thị Hồng Tước (1)

Maria Nguyễn Thị Hồng Tước (2)

Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa

Cụ Ông Phạm Văn Khỏe

Bà Nguyễn Thị Thúy Ban

Bà Quả Phụ Lê Khánh

Ông Lê Thành Long