Khi người ta không thèm… đẻ!

Hiếu Chân/Người Việt

Tết đến, người Trung Hoa thường tặng nhau chữ Phúc, chúc nhau năm mới sinh quý tử. Phúc, hay Phước – tượng trưng cho sự may mắn, tốt lành… là mong ước lớn nhất của mỗi người, mỗi gia đình trong dịp Xuân về. Và từ ngàn xưa, hình ảnh ông Phúc trong tranh tượng luôn bồng hoặc dắt theo một đứa bé vì người Hoa quan niệm phúc gắn liền với con cái, nhà đông con là nhà có phúc, nhà neo đơn là “vô phúc” cho dù có tiền muôn bạc vạn.

Một cặp vợ chồng trẻ bế con đi dạo ở Bắc Kinh, Trung Quốc. (Hình minh họa: Kevin Frayer/Getty Images)

Đức Khổng Tử – vị thầy ngàn đời của họ – còn căn dặn: “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” – có ba điều làm nên tội bất hiếu, không sinh con nối dõi là tội lớn nhất. Vì thế, với người Trung Hoa, sinh thật nhiều Hán tử là “phúc đức” nhất. Phụ nữ không sinh được người nối dõi gia tộc nhà chồng có thể bị ngược đãi, bị trục xuất, hoặc phải để chồng cưới thêm thê thiếp.

Quan niệm đề cao sự sinh sản và nối dõi tông đường đó gần đây đã bị đảo ngược. Phụ nữ Trung Quốc không thèm đẻ nữa, hoặc ngại sinh con, làm cho giới lãnh đạo Bắc Kinh phải đau đầu tìm cách đối phó.

Hôm Thứ Hai, 16 Tháng Giêng, Tổng Cục Thống Kê Nhà Nước Trung Quốc (NSB) công bố số liệu cho thấy năm 2022, dân số Trung Quốc bị giảm do sinh suất thấp hơn tử suất – số trẻ em sinh ra ít hơn số người chết. Hiện tượng này – lần đầu tiên kể từ năm 1961, năm có hàng chục triệu người Trung Quốc chết đói do chính sách Đại Nhảy Vọt (Great Leap Forward) của Chủ Tịch Mao Trạch Đông – báo hiệu một cuộc khủng hoảng dân số có tác động sâu sắc tới nước này và ảnh hưởng tới cả thế giới nữa.

Theo NBS, vào năm 2022, trong số 100,000 dân thì chỉ có 677 em bé được sinh ra, ít hơn con số 752 em bé năm 2021. Số người chết là 737, nhiều hơn mức 718 người năm trước. Tính chung, năm 2022 dân số Trung Quốc giảm 850,000 người, chết mất 10.41 triệu người nhưng chỉ sinh được 9.56 triệu em bé, tổng dân số còn 1,411,800,000 (một tỷ bốn trăm mười một triệu tám trăm ngàn người). Đến cuối năm nay, Trung Quốc sẽ mất ngôi vị “nước đông dân nhất thế giới” về tay Ấn Độ và tới năm 2050, Trung Quốc sẽ “mất đi” 109 triệu dân, nhiều hơn dân số Việt Nam hiện nay.

Dân ít đi, ít miệng ăn phải nuôi hơn, giảm áp lực lên cơ sở hạ tầng và tài nguyên quốc gia… là điều tốt, nhưng tại sao Trung Quốc phải lo lắng?

Đứng ở giác độ kinh tế học, giảm dân số có thể là nguy hiểm. Khi sinh suất giảm thì số người lao động trẻ khỏe, làm ra của cải cho xã hội tương lai sẽ ngày càng ít. Trong khi đó số người già về hưu, sống nhờ vào trợ cấp sẽ đông thêm. Hậu quả là xã hội sẽ bị “lão hóa,” ngày càng ít người đi làm, đóng thuế, để nuôi người nghỉ hưu, gánh nặng trên vai người trẻ sẽ ngày càng nặng.

Nhật, nền kinh tế từng có thời phát triển rực rỡ, nhưng sau đó rơi vào một thời kỳ ảm đạm kéo dài mà nguyên nhân chính là cuộc khủng hoảng dân số. Nhật hiện là xã hội bị lão hóa tiêu biểu nhất, số người già trên 65 tuổi chiếm tới 29% dân số. Tỉ lệ này là 20% ở Trung Quốc và 16% ở Mỹ. Mỗi năm Nhật phải đóng cửa 500 trường tiểu học vì không có đủ trẻ em theo học!

Lực lượng lao động giảm cũng có nghĩa là tiền lương sẽ tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế sẽ bị giảm tương ứng. Các công ty đa quốc mấy năm nay đã chuyển dần các cơ sở sản xuất ra khỏi Trung Quốc, tới các nước nghèo hơn như Việt Nam, Ấn Độ, một phần do giá nhân công Trung Quốc không còn “rẻ” như trước. Đà suy giảm dân số của Trung Quốc sẽ thúc đẩy xu hướng chuyển dịch này xảy ra nhanh hơn, mạnh hơn. Kinh tế Trung Quốc sẽ chậm lại là xu thế không thể đảo ngược.

Năm 2019, các học giả Trung Quốc tính ra rằng, phải đến năm 2031 dân số Trung Quốc mới đạt đỉnh và sau đó bắt đầu giảm dần, nhưng thực tế cho thấy cuộc khủng hoảng dân số đã đến sớm hơn 10 năm, mạnh hơn, và điều đó khiến các nhà lãnh đạo quốc gia này hết sức lo ngại.

Họ đã thấy và lo sợ Trung Quốc giống Nhật, sẽ không bao giờ bắt kịp, đừng nói là vượt qua quy mô của nền kinh tế Hoa Kỳ. Vài chục năm trước, nhiều nhà kinh tế học đã dự đoán kinh tế Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ vào khoảng năm 2025, sau đó lùi đến năm 2035, nhưng bây giờ họ đồng ý nhận định là kinh tế Trung Quốc sẽ không bao giờ lớn hơn Mỹ mà người Trung Hoa “chưa giàu đã già” vì khủng hoảng dân số. “Giấc mộng Trung Hoa” của Chủ Tịch Tập Cận Bình, trong đó Trung Quốc thay Mỹ làm bá chủ thế giới, sẽ không bao giờ trở thành hiện thực.

Nói cho công bằng, không chỉ Trung Quốc mới bị lão hóa. Các nghiên cứu cho thấy, xã hội càng giàu có thì người dân càng không chịu sinh đẻ. Mỹ, Nhật, Đức, Nam Hàn… đều chứng kiến mức sinh đẻ giảm mạnh trong những năm gần đây. Nhưng Trung Quốc là một hiện tượng đặc biệt, cuộc khủng hoảng dân số là do chính họ gây ra chứ không hoàn toàn do tự nhiên.

Trong nhiều thập niên, giới lãnh đạo Trung Quốc lo sợ dân số gia tăng nhanh hơn sản xuất lương thực, dẫn tới nạn đói, nên buộc người dân phải hạn chế sinh đẻ. Cực đoan tới mức năm 1980, đảng Cộng Sản Trung Quốc ban hành chính sách “một con” – mỗi cặp vợ chồng chỉ được phép sinh một đứa con, sinh đứa con thứ hai thì sẽ bị khai trừ đảng, cách chức, sa thải khỏi cơ quan nhà nước, bị phạt tiền rất nặng và bị hàng xóm láng giềng chê cười.

Chính sách “một con” kéo dài 35 năm, gây nhiều tai họa cho xã hội Trung Quốc, không chỉ số trẻ em sinh ra bị giảm mạnh mà còn mất cân đối trầm trọng về giới tính. Số trẻ em trai sinh ra là 104.69 so với 100 trẻ em gái. Khi chỉ được sinh một đứa con thì người ta chọn con trai, “loại bỏ” bào thai là con gái vì quan niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một con trai là có con, mười con gái cũng là không con) cổ hủ của Khổng Giáo. Trung Quốc bây giờ có hơn 30 triệu nam thanh niên không thể lấy vợ vì thiếu phụ nữ!

Năm 2015, ông Tập nhận ra mối nguy của chính sách “một con” nên sửa thành chính sách “hai con,” đến năm 2019 lại đề ra “ba con.” Chính phủ Trung Quốc cũng khuyến khích sinh đẻ bằng cách thưởng tiền cho gia đình nào sinh đứa con thứ ba, thêm thời gian “nghỉ hộ sản” (nghỉ để sinh con) cho phụ nữ. Nhưng những chính sách đó không có nhiều tác dụng do các gia đình trẻ lo ngại chi phí quá lớn cho việc mang thai, sinh đẻ, nuôi nấng, và giáo dục một đứa trẻ trong một xã hội mọi người phải cạnh tranh quyết liệt để vươn lên. Quan niệm về gia đình của giới trẻ Trung Quốc cũng đã thay đổi theo hướng tự do của Phương Tây, coi trọng sự nghiệp và hạnh phúc cá nhân hơn là nghĩa vụ sinh con nối dõi tông đường.

Và như đề cập ở trên, nhiều nước đối mặt với tình trạng lão hóa dân số, không riêng gì Trung Quốc, nhưng từ lâu các nước luôn tìm giải pháp cho vấn đề. Khoa học chỉ ra rằng để duy trì sự ổn định dân số thì phải đạt tỉ lệ sinh đẻ thay thế (replacement fertility rate) ở mức 2.1 – nghĩa là cứ 10 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ phải sinh bình quân 2.1 đứa con. Tỉ lệ này ở Trung Quốc hiện là 1.28, ở Nhật là 1.34, ở Mỹ là 1.64, và thấp nhất là Nam Hàn, 0.84.

Người Mỹ giải quyết tình trạng sinh đẻ thấp bằng chính sách tiếp nhận người di cư từ khắp thế giới. Lực lượng lao động của Mỹ luôn gia tăng để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Trong khi đó, Trung Quốc vừa có tỉ lệ sinh đẻ thay thế thấp hơn Mỹ, vừa đóng cửa, không tiếp nhận người nhập cư (và cũng hiếm có người nước ngoài nào muốn thành người Trung Quốc, thần dân của đảng Cộng Sản toàn trị) nên cuộc khủng hoảng dân số của Trung Quốc là rất nan giải.

Cùng với đại dịch COVID, kinh tế suy yếu, cuộc khủng hoảng dân số sẽ thiêu rụi giấc mơ bá chủ của ông Tập Cận Bình cho dù năm mới người Trung Quốc có nhiệt tình chúc nhau “Phúc mãn đường” từ trong nhà ra ngoài ngõ! [đ.d.]

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT