Đông y chữa nấc

Bác Sĩ Đặng Trần Hào tốt nghiệp bác sĩ y khoa Đông Phương tại Samra University, Los Angeles, năm 1987, và được mời tham dự hội đồng State Board về Châm Cứu và Đông Dược. Mục này giúp cho ai muốn tìm hiểu về Đông Dược và muốn góp ý cho kho tàng Đông Dược phong phú hơn để phục vụ bệnh nhân. Quý vị có thể liên lạc bác sĩ qua email: [email protected] hoặc điện thoại (714) 714-0564 office và (714) 553-6183 cell.

Bác Sĩ Đặng Trần Hào

Ngậm đầy không khí trong miệng và bịt tai là một phương pháp để ngăn chặn cơn nấc. (Hình minh họa: Three Lions/Getty Images)

Nấc là chỉ trong họng luôn luôn phát ra tiếng nấc, tiếng nấc liên tục không lúc nào dứt, tứ chi hay lạnh, ăn khó tiêu, đầy hơi, tinh thần mệt mỏi là do thận và tì khí suy lâu ngày, ăn uống không kiện toàn tiêu hóa tích tụ thành đàm thấp, cộng với tì đi nghịch khí.

Theo Hải Thượng Lãn Ông lý giải: “Sự sống con người lấy tì, vị làm chủ. Tì giữ chức vận hóa, vị giữ chức thu nạp. Một bên nạp, một bên vận hóa, chuyển hóa thức ăn thành chất tinh hoa, sinh ra tinh khí, nuôi dưỡng cơ thể, thấu suốt các kinh mạch và lạc mạc toàn thân.”

Theo sách Hoàng Đế Nội Kinh, “Tì (lá lách) làm chủ ở trung tiêu, quan hệ biểu lý với vị, chủ việc vận hóa thực phẩm và nước uống nuôi dưỡng toàn thân, đồng thời chủ về da thịt, thống nhiếp huyết dịch. Tì vị hư thì ăn uống kém sút, khó tiêu, bụng trướng, đại tiện lỏng, suy nhược, sắc mặt vàng úa… Vị (dạ dầy) là bể chứa cơm, thu nạp. Phàm ăn uống không tiết độ, no đói thất thường, nóng lạnh chợt biến đều ảnh hưởng tới vị. Gây chứng vị hàn, nhiệt, thực và hư. Chứng vị hư có hiện tượng bụng no đầy, không muốn ăn vì khó tiêu.”

Ngoài ra Hải Thượng Lãn Ông còn giải thích: “Mừng, giận, lo, sợ, buồn, khiếp đảm đều gây tổn thương tới nguyên khí vì căng thẳng tinh thần thì khí uất, vì khí uất thì tổn thương can mộc, can mộc vốn khắc tì thổ, nên can khí phạm vị, khiến cơ năng lo việc tiêu hóa hấp thụ rối loạn, lâu ngày phát sinh ra bệnh đau bao tử và đầy trướng.”

Nấc do tì khí suy và nghịch khí

Nấc, đầy hơi, tức vùng thượng vị, thích đồ ăn nóng, ăn đồ ăn lạnh thì khó chịu, đại tiện thường phân nhão hoặc lỏng bất thường, ợ hơi, chậm tiêu, biếng ăn, bụng trướng, miệng nhạt, người mệt mỏi, chân tay đôi khi bất lực, sợ lạnh. Khi bệnh nhân nói tiếng thường nhỏ yếu, hụt hơi, sắc mặt vàng nhợt. Mạch trầm trì, vô lực. Rêu lưỡi mỏng, trắng lợt.

Chủ trị: Kiện tì, hòa vị, nếu tì hư hàn thì ôn trung, kiện tì.

Bài thuốc
Sâm hoa kỳ 12 gram
Bạch truật 9 gram
Phục linh 9 gram
Cam thảo 6 gram
Bán hạ chế 9 gram
Mộc hương 6 gram
Sinh khương 3 lát
Sa nhân 6 gram
Trần bì 6 gram
Đại táo 3 trái
Chỉ xác 9 gram
Hương phụ 9 gram
Đại phúc bì 9 gram

Nhiệm vụ các vị thuốc:

-Nhân sâm: Bổ tì và bao tử.

-Bạch truật: Tiêu thấp trong bao tử.

-Phục linh: Thông thủy tích trong bao tử.

-Cam thảo: Phối hợp và điều động các vị thuốc.

-Sa nhân, mộc hương, trần bì, sinh khương: Bổ tì vị khí, kiện toàn tiêu hóa, giúp ăn ngon.

-Chỉ xác, hương phụ, đại phúc bì: Giáng khí tản khí trung tiêu, trị nấc.

-Bán hạ: Chữa nôn mửa do tì vị hư hàn gây ra.

Sinh khương là tên dược của củ gừng tươi, vị cay nồng, tính ấm và được sử dụng trong nhiều bài thuốc chữa bệnh. (Hình: thuocdantoc.org)

Nấc do can khí bất hòa

Bệnh nhân sắc diện tương đối khỏe mạnh, sắc mặt đỏ, tròng mắt sắc đỏ đậm hoặc lợt, môi đỏ thẫm hoặc tím. Giọng nói bệnh nhân mạnh khỏe, hơi thở hôi. Bệnh nhân khai cơn đau không nhất định, có lúc đau dữ dội lan ra hai bên giang sườn, đau lan ra sau lưng trên, vùng với tay không tới, no đói đều đau, nhưng phần lớn đau sau khi ăn. Ban ngày mùa Hè đau nhiều hơn ban đêm mùa Đông. Nắn bụng cảm thấy đau không chịu nổi .Có lúc cơn đau lại lắng dịu như lành bệnh, miệng đắng, thích ăn đồ lạnh, khát nước, hay ợ nóng, nôn nước chua, nước tiểu vàng, táo bón. Rêu lưỡi trắng, hoặc vàng dầy và khô. Mạch hoạt sác, hữu lực và đại.

Phương pháp trị liệu: Sơ can tiết nhiệt, lý khí, hòa vị, giáng nghịch, chỉ thống.

Sài Hồ Sơ Can gia giảm
Sài hồ 9 gram
Hương phụ chế 9 gram
Chỉ xác 12 gram
Đại Phúc bì 9 gram
Xuyên luyện tử 9 gram
Diên hổ sách 9 gram
Trần bì 6 gram
Mộc hương 6 gram
Bạch thược 15 gram
Mạch nha 9 gram
Kê nội kim 9 gram
Cam thảo 3 gram

Nhiệm vụ các vị thuốc:

-Sài hồ: Sơ gan.

-Hương phụ, chỉ xác, mộc hương, xuyên luyện tử: Tản khí, ôn trung giúp kiện toàn tiêu hóa.

-Bạch thược: Mát gan, giảm đau, bổ huyết, liễm âm, giảm bụng ngực đau trướng.

-Đại phúc bì: Giáng khí.

-Mạch nha, kê nội kim: Bổ tì vị và kiện toàn tiêu hóa.

-Cam thảo: Bổ tì khí và phối hợp các vị thuốc.

Theo danh y Tuệ Tĩnh đã ghi chép tóm tắt: “Tâm vị thống là đau vùng dạ dầy. Chứng ấy có chín loại, nhưng chung qui do đàm uất, thất tình, thất khí, xúc phạm mà gây ra thương tổn. Ngày qua ngày, năm qua năm, căn nguyên dồn dập, uất tích thành đờm, đờm hỏa nung nấu khiến huyết cũng đi càn, đờm máu tích tụ, ngăn trở  con đường đi xuống mới sinh ra đau. Cho nên pháp trị phải phân biệt rõ hàn, nhiệt, hư, thực, khí, trùng mà sử phương.” [hp]

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT