Mũ Xanh Phạm Đức Cường nhớ về một thời của Biệt Kích Dù

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Sau khi tốt nghiệp Khóa 14 Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ) Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức ngày 15 Tháng Sáu, 1963, Chuẩn Úy Phạm Đức Cường về phục vụ cho Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Đến giờ phút cuối cùng trong quân ngũ, Thiếu Tá Cường thuộc về Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù.

Mũ Xanh Phạm Đức Cường (trái) và cựu Thiếu Tướng Lê Minh Đảo tại California. (Hình: Phạm Đức Cường cung cấp)

>> Nói chuyện với Biệt Kích Dù 81 Mũ Xanh Phạm Đức Cường

Kể lại chuyện xưa với phóng viên nhật báo Người Việt tại Westminster, một thành phố trung tâm của Little Saigon, nơi có cộng đồng người Việt lớn nhất hải ngoại, ông Phạm Đức Cường cho biết: “Gần cuối năm 1964, có một trận chiến mà chúng tôi xem như được chiến thắng lẫy lừng, đó là trận đánh tại Vũng Rô, Phú Yên. Những phi cơ quan sát của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã khám phá có nhiều tàu biển dân sự cập vào bờ biển Vũng Rô, và phi công tình nghi những chiếc tàu này là của Việt Cộng, nên mới báo cáo về Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt đang đóng tại Nha Trang. Lập tức, bộ tư lệnh lệnh cho hai Đại Đội Biệt Kích Dù hành quân khẩn cấp vào ngay vùng của những chiếc ghe đó.”

Tham chiến trận Vũng Rô, Phú Yên

“Đại đội chúng tôi dưới sự chỉ huy của Đại Úy Đỗ Cao Luận, em ruột của Trung Tướng Đỗ Cao Trí. Những ngày đầu trên đường hành quân thì chúng tôi cũng đụng lai rai với vài tên địch, và thâu được khoảng trên 10 súng cùng nhiều đạn dược của địch quân. Còn cánh quân của đại đội khác do Đại Úy Từ Vấn chỉ huy, hành quân xuống gần những chiếc tàu bị tình nghi là của địch, thì cánh quân này khám phá được một kho vũ khí của Việt Cộng chứa trên 2,000 cây súng mới tinh, còn nhãn hiệu của Nga Xô và Trung Cộng cung cấp cho địch quân,” ông nhớ lại.

“Được tin do đại đội của Đại Úy Từ Vấn thông báo, đại đội chúng tôi liền tiến gần đến kho vũ khí của địch quân, tiếp ứng với cánh quân của bạn mình để bảo vệ kho vũ khí này, và chúng tôi đã tiêu diệt được một số địch quân tại chỗ. Sau đó, Sư Đoàn Bộ Binh của Tướng Lữ Lan, tư lệnh Vùng II Chiến Thuật, tiến vào phụ giúp chúng tôi đưa chiến lợi phẩm về triển lãm tại Ban Mê Thuột. Đây là một chiến thắng lớn của Quân Lực VNCH, do công trận của đơn vị Biệt Kích Dù của Lực Lượng Đặc Biệt tạo nên,” ông kể tiếp.

Ông Phạm Đức Cường được lên cấp bậc thiếu úy sau trận đánh này.

Sau đó, đơn vị của Thiếu Úy Cường tham dự nhiều trận chiến khác, nhưng phần nhiều là nhảy toán ngoài biên giới hoặc vào trong vùng địch đóng quân tại miền Nam. Mỗi toán đi khoảng 10 người trở xuống. Công tác của toán Biệt Kích Lực Lượng Đặc Biệt là xâm nhập vào vùng địch đóng quân, thi hành các công tác đặc biệt như xâm nhập vào miền Bắc, hoặc đến những mật khu của Việt Cộng đặt trên đất Lào và Cambodia, để sưu tầm tin tức tình báo, bắt cóc, phá hoại các mục tiêu quân sự của đối phương.

Giữ an ninh Biệt Khu Thủ Đô Sài Gòn

Những lúc không đi hành quân, đại đội của ông được về thành phố dưỡng quân, nhưng phải làm an ninh bảo vệ cho Biệt Khu Thủ Đô Sài Gòn. “Có lúc, chúng tôi được biệt phái về Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn. Tôi là trung đội trưởng Trung Đội Biệt Kích Dù được về Sài Gòn để dưỡng quân, nhưng thật ra là để giữ an ninh cho Sài Gòn,” ông cho hay.

Ông kể thêm: “Không phải chỉ riêng đơn vị của chúng tôi mà còn có những đơn vị khác như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân… cũng phải về giữ an ninh cho Biệt Khu Thủ Đô. Vì thế, đôi khi mang tiếng về thành phố để nghỉ dưỡng quân, nhưng thật ra chúng tôi cũng phải ứng chiến để bảo vệ thành phố Sài Gòn. Ngoài việc giữ an ninh cho Biệt Khu Thủ Đô, chúng tôi còn phối hợp cùng những đơn vị bạn đi tuần tiễu thường xuyên trong thành phố để bắt du đảng và những quân nhân ‘dù’ về thành phố không có giấy phép.”

Sau đó trung đội của Thiếu Úy Cường được lệnh trở về hậu cứ của Biệt Kích Dù đang đóng quân tại Ban Mê Thuột và tái hành quân vào vùng đất địch tại biên giới.

Đầu năm 1965, toán Biệt Kích của ông, gồm 10 người, xâm nhập vào nơi đóng quân của địch tại Hạ Lào để lấy điểm cho Không Quân Hoa Kỳ dội bom xuống căn cứ địch đang đóng quân. Khi xong nhiệm vụ, cả toán Biệt Kích của Lực Lượng Đặc Biệt đều tử trận, chỉ có mình ông Cường được trực thăng bốc về hậu cứ của Lực Lượng Đặc Biệt đang đóng quân tại biên giới Hạ Lào. Trong trận này, Thiếu Úy Cường được lên lon trung úy đặc cách tại mặt trận.

Sau đó, Trung Úy Cường được làm trưởng toán Biệt Kích, và cũng nhiều lần toán của ông đã xâm nhập vào vùng đất địch tại biên giới Hạ Lào và Cambodia. Đầu năm 1966, ông được tiểu đoàn đưa đi thụ huấn Khóa Tình Báo Đặc Biệt. Khi ra trường ông được thăng cấp đại úy và nhậm chức trưởng ban 2 của đơn vị B13, Tiểu Đoàn C2 Biệt Kích Dù tại Ban Mê Thuột.

Cựu Thiếu Tá Phạm Đức Cường (thứ ba từ trái, đứng) và Hậu Duệ Quân Lực VNCH. (Hình: Phạm Đức Cường cung cấp)

Giờ phút cuối với Liên Đoàn 81 Biệt Kích Nhảy Dù

Ngày 1 Tháng Tư, 1968, Tiểu Đoàn 91 Biệt Kích Dù được đổi tên thành Tiểu Đoàn 81 Biệt Kích Dù. Trung đội của ông Cường vẫn tiếp tục phục vụ cho Tiểu Đoàn 81 Biệt Kích Dù.

Tháng Sáu, 1970, cơ quan MACV chấm dứt hoạt động của Trung Tâm Hành Quân Delta và rút các quân nhân Hoa Kỳ về nước. Tháng Tám, 1970, Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt bị giải tán vì đã hết nhiệm vụ nhảy Bắc, nhảy Lào và đổ bộ trên biển. Các quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt đều được phân tán về các binh chủng khác trong Quân Lực VNCH, nhiều nhất là được chuyển qua Biệt Động Quân và Nha Kỹ Thuật.

Đầu năm 1971, ông Cường lập gia đình.

Ông Cường cho biết: “Khi Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt giải thể, vì nhu cầu chiến tranh, những toán A Biệt Kích Lực Lượng Đặc Biệt phần nhiều được đưa về những đơn vị Biệt Động Quân Biên Phòng, còn những toán B như chúng tôi ở B13 Ban Mê Thuột thì được trở về Nha Kỹ Thuật hay những chiến sĩ Nhảy Dù. Riêng Tiểu Đoàn 81 Biệt Kích Dù có sáu đại đội, thì bên Binh Chủng Nhảy Dù lấy Đại Đội 1 và Đại Đội 2 để thành lập Đại Đội Trinh Sát 81 của Sư Đoàn Nhảy Dù. Những đại đội còn lại thì được phân tán về Nha Kỹ Thuật và nhiều đơn vị khác.”

Riêng bộ phận chỉ huy của Trung Tâm Hành Quân Delta và Tiểu Đoàn 81 Biệt Kích Dù được tổ chức lại, sáp nhập thành Liên Đoàn 81 Biệt Kích Nhảy Dù, được đặt thành một Lực Lượng Tổng Trừ Bị của Bộ Tổng Tham Mưu. Huy hiệu của Lực Lượng Đặc Biệt cũng trở thành huy hiệu của Liên Đoàn 81 Biệt Kích Nhảy Dù (hay Biệt Kích Dù).

Khi mới thành lập, quân số của Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù chỉ khoảng 900 người. Về sau, Liên Đoàn được mở rộng cấp số, có tổ chức gồm: Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn, một Đại Đội Chỉ Huy Yểm Trợ và ba Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật. Tổ chức này khác xa với Bộ Binh hoặc các binh chủng khác. Mỗi bộ chỉ huy có bốn biệt đội, mỗi biệt đội có khoảng 200 quân nhân. Tổng quân số của Liên Đoàn lên đến khoảng 3,000 quân nhân.

Khi Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù được thành lập thì Đại Úy Cường được lệnh đi thụ huấn khóa tình báo cao cấp. Sau đó ông được về đơn vị 101 Tình Báo và được thăng cấp thiếu tá.

Ông Cường cho biết thêm: “Sự khác biệt giữa đơn vị 81 Biệt Kích Dù và 101 là, Biệt Kích Dù 81 là một đơn vị chiến đấu, còn đơn vị 101 là đơn vị Quân Báo, thuộc ngành tình báo chiến trường của Quân Lực VNCH. Các nhân viên của đơn vị 101 thường họ cải dạng như người dân thường, ít khi mặc đồ quân nhân. Những chuyến công tác của họ thường giả dạng như những người chủ quán, tài xế taxi hay người đi buôn… Tuy tôi được về đơn vị 101, nhưng quân số của tôi vẫn thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù cho đến giờ phút cuối cùng.”

Ông Phạm Đức Cường (trái) và con trai Phạm Đức Thịnh tại Đại Hội Võ Bị lần thứ XXII, tại Westminster. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Gia đình được định cư tại California

Sau đó, ông Cường được về phục vụ đơn vị Trung Ương Tình Báo, thuộc Ủy Ban Phối Hợp Tình Báo Quốc Gia. Ủy ban này do sự phối hợp của tám đơn vị tình báo của quân đội và cảnh sát VNCH, tọa lạc tại số 3 Bến Bạch Đằng, Sài Gòn.

Đêm 29 Tháng Tư, 1975, Cộng Quân bắt đầu tiến mạnh vào thủ đô Sài Gòn. Nhiều bộ chỉ huy của các đơn vị Quân Lực VNCH bắt đầu di tản ra khỏi nước. Ông Phạm Đức Cường đưa gia đình, gồm vợ và hai đứa con, đến Nhà Bè xuống tàu Hải Quân ra biển và chuyển nhiều tàu khác trong đó có tàu đánh cá và tàu buôn… Gia đình ông Cường và nhiều người khác lênh đênh trên biển khoảng một tháng.

Sau đó gia đình ông được vào đảo Guam. Rồi được chuyển sang trại Camp Pendleton, California. Một thời gian sau, gia đình ông Cường được định cư tại thành phố Westminster, vào đầu Tháng Mười, 1975.

Khi được cư ngụ tại thành phố Westminster, ông Cường đi làm việc cho nhiều hãng xưởng tại Nam California, còn vợ thì nấu ăn cho nhà thờ. Vài năm sau, nhờ người chị giúp đỡ, ông mở một tiệm ăn, đó là quán Phở Công Lý trên đường Westminster. Đây cũng là một trong những quán phở đầu tiên của Việt Nam tại Nam California.

Tuy hiện nay vợ đã ra đi và ông đã về hưu, nhưng Mũ Xanh Phạm Đức Cường vẫn hăng hái hoạt động với các hội đoàn cựu quân nhân Quân Lực VNCH và Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH trong mọi công tác để giúp anh em thương phế binh tại quê nhà. Đó là tâm nguyện cuối đời của người lính già Phạm Đức Cường.

Hiện giờ, gia đình ông đang sống tại thành phố Huntington Beach, California. (Lâm Hoài Thạch) [qd]

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT