Duy Tính
LONG AN, Việt Nam (NV) – Xóm Nhà Giàu Thanh Phú Long, Long An, có trên 100 tuổi từng được hãng phim truyện truyền hình TFS sử dụng làm phim trường để quay bối cảnh phim “Nàng Hương” và nhiều phim khác. Báo chí, truyền thông trong nước viết nhiều về Xóm Nhà Giàu. Nhiều nhóm du khách đã tìm đến đây như là một địa điểm thăm viếng hấp dẫn. Nhưng đằng sau công trình kiến trúc độc đáo gia tộc tạo Xóm Nhà Giàu còn ẩn chứa câu chuyện nhân nghĩa đáng quý.

Năm Quý Mão, sau đại địch COVID-19, người Việt nhộn nhịp ngao du xả stress. Thăm viếng Xóm Nhà Giàu Thanh Phú Long, tôi may mắn tiếp xúc anh Nguyễn Hữu Phong, nhà sưu tập cổ vật của địa phương, là con cháu, pho sử sống của Xóm Nhà Giàu. Bằng ký ức, hình ảnh, gia phả, các văn bản khế ước đất đai, anh Phong đã phục dựng lại những điều thú vị về câu chuyện nhân nghĩa của tộc họ này.
Nhà cổ từng được lên phim
Xóm Nhà Giàu xưa thuộc làng Thanh Thủy, nay là xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, cùng làng với gia đình cố Thủ Tướng VNCH Trần Thiện Khiêm, chỉ cách nhau vài km đường chim bay. Xóm có hơn 10 ngôi nhà cổ của gia tộc Nguyễn Hữu, trong đó bề thế nhất là nhà ba anh em ông Cai Hiệp, Hội Đồng Hoanh và Phủ Hùng. Đất đai của dòng tộc Nguyễn Hữu có đến hàng ngàn mẫu nhất đẳng điền trải từ Tân An, Gò Công, Mỹ Tho xuống tận Cà Mau.
Ngôi nhà lớn, ấn tượng nhất từng được hãng phim truyện TFS chọn làm bối cảnh quay phim “Nàng Hương” (vai chính là hai diễn viên Diễm Hương và Lê Công Tuấn Anh) thập niên 1980 là nhà ông Nguyễn Hữu Hoanh. Chính quyền tỉnh Long An đã đầu tư 16 tỷ đồng ($657,700) để phục dựng lại những hư hỏng do chiến tranh theo diện di tích văn hóa. Nền nhà cẩn đá xanh cao quá đầu đứa trẻ. Gian trước cao, rộng mênh mông. Mỗi cột nhà vòng tay người ôm không hết. Người ta thường ví cái gì to, cao nhất với cột đình nhưng so với cột nhà ông Nguyễn Hữu Hoanh, cột đình thấp hơn nhiều.

Kết cấu ngôi nhà cũng đặt biệt, phần chính gồm hai khối nhà ba căn hai chái ở giữa là khoảng sân thiên tỉnh đặt lu hũ chứa nước mưa. Hai khu nhà không tách rời mà nối liền nhau bởi hai nhà cầu (lối đi có mái che bằng ngói). Kết cấu này có ưu điểm là nhà rộng, an toàn chỗ nào không gian cũng sáng sủa thoáng mát không bị tối, ẩm thấp như những ngôi nhà chữ đinh theo truyền thống Việt Nam.
Nhà ông Hoanh xây ròng rã hơn ba năm. Mua cây súc ở Cambodia bè theo đường sông về đây đẽo gọt. Thợ thầy rước từ miền Bắc, Trung vô làm. Một số người thợ xây nhà đã cưới vợ và an cư lạc nghiệp tại đây.
Theo gia phả, từ vị thủy tổ rời Thanh Hóa vào đây khẩn hoang, ông Hoanh là đời thứ tư. Từ thế hệ này họ Nguyễn Văn đổi thành Nguyễn Hữu và bắt đầu hoạnh phát. Năm 1900, ba anh em Nguyễn Hữu Hiệp, Nguyễn Hữu Hoanh, Nguyễn Hữu Hùng làm tờ tương phân chia di sản gồm 63 hécta đất ruộng và hơn 2 hécta đất thổ. Theo đó ông Hiệp, trưởng nam, hưởng 13 hécta ruộng và toàn bộ đất thổ làm hương hỏa, 50 hécta ruộng còn lại chia đều cho ba người.
Ở miền Nam thời đó 50 hécta đất chưa gọi là giàu. Nhưng chỉ 25 năm sau, ba anh em ông Nguyễn Hữu đã nhân số ruộng lên hàng chục lần nhiều hơn. Giàu nhanh nhờ có ý chí cần cù, giỏi tính toán nhưng cũng có phần quan trọng là từ hôn nhân. Trong dòng tộc đã có hai cuộc hôn nhân làm nhân đôi tài sản.

Cưới vợ tài sản nhân đôi!
Vợ mất sớm mới 23 tuổi, ông Hoanh gà trống nuôi con, tiếp tục phát triển cơ nghiệp và xây nhà bề thế tạo tiếng vang khắp vùng. Tiếng vang không phải về sự giàu có mà ở ý chí lập thân vượt lên hoàn cảnh. Nhờ vậy, khi ngấp nghé 30 tuổi, đã có hai con riêng, ông lại được vị điền chủ lớn ở Tiền Giang đánh tiếng gả con. Vị nhạc gia hỏi chàng rể thật nhẹ nhàng “Mày có hết thảy bao nhiêu mẫu ruộng?,” ông Hoanh tình thiệt trả lời “Nhờ trời nên ngoài phần cha mẹ để lại có mua thêm ba bốn trăm mẫu.” Ông cha vợ cười hớn hở “Được! Cha sẽ cho con số ruộng y như vậy!”
Tài sản của ông Hoanh đã nhân đôi sau cuộc hôn nhân. Ông không hoang phí mà tiếp tục cho nó sinh sôi, đã tiếp tục đầu tư khẩn hoang lập điền ở tận Cà Mau. Dù mãn phần khá trẻ, hưởng dương 54 tuổi, ông kịp để lại di sản hơn 1,000 hécta ruộng. Theo gương nhạc gia, ông cũng chọn rể không phải giàu có mà là người thanh bần hiếu học là kỹ sư họa đồ. Người này làm đến chức phó giám đốc Điền Sở Địa Nam Phần, rất tiếc từ trần rất trẻ vì tai nạn xe hơi năm 1960.

Cuộc hôn nhân thứ hai còn thú vị hơn. Gia đình họ Huỳnh Đình ở Gò Công rất giàu nhưng không có con trai nối dõi, đánh tiếng gả con gái cho họ Nguyễn. Chú rể đầu tiên được giao kết là Nguyễn Hữu Tân, con ông Cai Hiệp. Chăng may, gần đến ngày cưới, chú rể Tân bị bệnh qua đời. Hai họ thu xếp để người em chú bác là Nguyễn Hữu Đỏ thay thế. Bên gái xin bắt rể, đổi họ chú rể sang Huỳnh Đình, hai con ông Đỏ cũng lấy họ Huỳnh Đình, khi trưởng thành mới lấy lại họ gốc. Một trong hai người con ông Đỏ là Luật Sư Nguyễn Hữu Châu, tổng chưởng Nội Vụ, tổng chưởng Tư Pháp thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, anh cột chèo (đồng hao) với cố vấn Ngô Đình Nhu.
Ông nhạc Huỳnh Đình không chỉ cho con rể ruộng đất mà còn giúp đỡ vốn liếng, phương tiện cho ba anh em sui gia họ Nguyễn. Chính nhờ vậy, gia tộc Nguyễn có thêm hàng trăm hécta ruộng ở Gò Công.
Đặc biệt thời ấy phương tiện giao thông chủ yếu là đường thủy, xóm làng, nhà cửa đều cất dọc theo sông. Khi chính quyền Pháp mở ra tỉnh lộ Tân An đi Rạch Lá-Gò Công, xòm nhà giàu của gia tộc Nguyễn cách đường này hơn 3 km, không có đường ra. Sui gia Huỳnh Đình đã cho họ Nguyễn mượn số tiền lớn mua cả dãy ruộng hàng chục hécta của dòng họ Thôn Võng để mở đường ra lộ cái. Ngay đầu lộ vô xóm nhà họ Nguyễn là một đoạn đường cong, người Pháp gọi là La Cua (la courbe) và khu vực này là “Quartier de riche” có nghĩa là Xóm Nhà Giàu. La Cua, Xóm Nhà Giàu đã thành địa danh dân gian cho tới ngày nay.

Tổng chưởng Tư Pháp ly hôn không xong phải bỏ xứ
Cuộc hôn nhân của ông Nguyễn Hữu Châu và bà Trần Lệ Chi không may mắn như thế hệ trước. Bà Chi yêu một người Pháp, ông Châu muốn ly dị. Không biết tình cờ hay cố ý, thời điểm đó bà Trần Lệ Xuân đưa ra Luật Gia Đình 1959, quy định rất nghiệt ngã: cấm ly hôn, mỗi cặp hôn nhân phải ghi danh nơi ở chung gọi là cư sở hôn nhân, không được đi khỏi nơi này quá sáu tháng… Dư luận cho rằng luật này nhằm ngăn ông Châu không được ly hôn.
Ông Châu từ chức tổng chưởng, trốn qua Cambodia. Quốc Vương Sihanouk (từng là bạn học ở trường Chasseloup-Laubat) giúp ông Châu bay sang Pháp tránh sự truy đuổi của chính quyền Ngô Đình Diệm. Đó cũng chính là một trong những tác nhân căng thẳng giữa chính quyền Sài Gòn và Phnom Penh. Ông Châu định cư suốt đời ở Pháp và là nhân sĩ có uy tín trong cộng đồng người Việt ở Paris.
Ngẫm lại hôn nhân môn đăng hộ đối không tốt mà cũng không xấu. Nếu đôi bên đồng thuận, đồng tình, hai gia tộc cùng thuận hòa phát triển, nhưng nếu là cưỡng bách thì dễ đổ vỡ và cả hai cùng bị tổn thương.

Tình gia tộc, nếp gia phong
Ba anh em ông Nguyễn Hữu còn để lại cho con cháu tình đoàn kết yêu thương giúp đỡ từ trong gia đình ra cả ngoài cộng đồng. Trường hợp ông Nguyễn Hữu Trà, con trai cả của ông Cai Hiệp, là điển hình.
Do lý do nào đó, bà mẹ ông Trà thôi chồng, ôm con về nhà cha mẹ đẻ. Sau đó, bà tái hôn, ông Hiệp cũng tái hôn. Chú bé Trà có đủ mẹ cha nhưng lại sống với ngoại như trẻ mồ côi. Hai ông Hoanh và Hùng đã bàn nhau “cháu mình thì mình phải lo, lá rụng phải về cội.” Hai ông cùng đi tìm và cõng bé Trà về với tộc Nguyễn, nuôi dạy đến trưởng thành.
Khi ông Hiệp qua đời, bà vợ sau dù có nhiều con vẫn chủ động làm giấy sang tên cho ông Trà 12 hécta ruộng ở Gò Công. Ông Trà làm thôn trưởng làng Thanh Thủy, tạo lập nhà cửa khang trang, con cái đều thành đạt và gắn kết với các chi tộc Nguyễn Hữu anh em. Mới đây, cháu ông đã phục chế nhà từ đường khang trang không kém nhà ông Hội Đồng. Ông Đốc Hiển, đốc học tỉnh Tân An, con thứ tám ông Cai Hiệp lại có nghĩa cử đẹp là nhường hết hàng chục mẫu ruộng được thừa kế của mình cho các cháu. Tình gia tộc không thể hiện bằng lời nói mà là sự sẻ chia.
Theo quy ước đời trước, các thế hệ con cháu xưng hô với các ông bà theo thứ. Không phân biệt theo dòng địch trực hệ, bàng hệ, ông anh ông tui. Tất cả các cháu ngang hàng dù thuộc chi nào cũng đều gọi ông Cố Hai (Cai Hiệp), Cố Năm (Hội Đồng Hoanh), Cố Bảy (Phủ Hùng).

Các thế hệ hiện nay, tình thân đại gia đình rất bền chặt dù xa nhau về trực hệ mà theo luật pháp đã có thể kết hôn từ tám hoánh. Một thí dụ cháu ông Hoanh nhờ hỏi thăm thông tin khám bệnh cho cha. Bác Sĩ Nguyễn Hữu Phước, nguyên trưởng khoa ICU bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn, cháu ông Nguyễn Hữu Hiệp, trả lời gọn lỏn: “Khi nào Chú Bảy đi khám, em gọi điện báo trước một ngày.” Hóa ra hôm ấy anh xin nghỉ phép và trực tiếp người chú họ đi từng phòng khám, xét nghiệm. Khi ông chú nằm viện, đến thăm, chỉ thấy đám cháu mà không đám người lớn ngang vai, anh ra lệnh: “Tụi con về kêu ba và bác ba vô đây! Tụi nó phải trực tiếp chăm sóc ông nội chứ không thể giao cho tụi con!” Thân mật trách nhiệm và nghiêm khắc đến như vậy.
Truyền thống gia đình quý báu đó là di sản lớn hơn cả tiền bạc.

Trách nhiệm với cộng đồng
Thanh Phú Long gần biển nên mùa khô nước sông bị mặn, nhu cầu nước uống rất bức bách. Khi xây nhà, ông Nguyễn Hữu Hoanh đã làm hồ chứa nước mưa rất lớn, đủ dùng cho cả làng Thanh Thủy. Gần cả trăm năm qua, mùa khô người dân Thanh Thủy sống nhờ nước hồ này.
Đối với con lộ từ xóm đi ra đường cái, ba anh em không chỉ mua đất làm đường mà còn tự lãnh trách nhiệm duy tu. Trong di ngôn, ông Nguyễn Hữu Hoanh lập một phần tư hécta ruộng cho con trai Nguyễn Hữu Vĩnh để trích huê lợi bảo dưỡng, duy tu. Hiện nay con lộ ấy đã được cư dân địa phương mà đa phần là con cháu họ Nguyễn Hữu bỏ tiền đổ bê tông rộng 4 mét và các đường nhánh rộng 2 mét tỏa khắp làng.
Năm 1909 ba anh em họ Nguyễn hùn nhau xây chùa Tam Khánh trên phần đất của gia đình. Chùa khang trang, cột gỗ, mái ngói trên khuôn viên rộng hơn 5,000 m2 và phụng cúng một phần đất ruộng cho chùa. Sau năm 1975, chính sách đất đai không còn chế độ đất hương hoa, các hậu duệ của tộc Nguyễn Hữu từ trong ngoài nước vẫn đóng góp công đức, tiền của hỗ trợ cho chùa.

Năm 2007, Đại Đức Thích Huệ Nghiêm, viện chủ chùa Tam Khánh, làm tờ Cẩn Bạch kêu gọi đóng góp trùng tu xây dựng lại chùa đã ghi rõ công đức tạo tác của ba anh em Nguyễn Hữu. Ba anh em họ Nguyễn cũng góp tiền lập đình Thanh Thủy, hiện nay là đình chính của xã Thanh Phú Long, hằng năm vẫn đáo lệ cúng Kỳ Yên cầu cho “phong điều vũ thuận” (gió điều hòa, mưa phù hợp).
Theo biến thiên của lịch sử, tài sản, ruộng đất của dòng tộc Nguyễn Hữu còn lại không đến 1% thời hưng thịnh, chủ yếu là di sản kiến trúc Xóm Nhà Giàu nhưng giá trị sống về tình tương thân gia tộc và trách nhiệm với cộng đồng xã hội vẫn đang sinh sôi phát triển trong các thế hệ cháu con. Đọc lại gia phả và những câu chuyện sống về tộc Nguyễn Hữu, tôi nhận ra giàu không phải xấu, nghèo không phải hay. Học thuyết về tính ưu việt giai cấp công nông của người cộng sản chỉ là luận điệu tuyên truyền bịa đặt. (Duy Tính) [qd]















































































