Đọc ‘Lá Thư từ Kênh Xáng’ của Hai Trầu

Trần Doãn Nho/Người Việt

KENNEDALE, Texas (NV) – Nhà văn Hai Trầu nhớ, nhớ nhiều, nhớ chi li, đến từng chi tiết. Miên man nhớ. Nhưng nỗi nhớ của ông, trải đều qua hơn 50 lá thư trong tác phẩm “Lá Thư Từ Kênh Xáng,” có nhiều điều rất khác.

Bạn bè Houston 2019. Từ trái: Trần Doãn Nho, Hai Trầu (Lương Thư Trung), Phạm Văn Nhàn, Phan Xuân Sinh. (Hình: Trần Doãn Nho cung cấp)

Ông nhớ cảnh: “Trăng trên lá, trên cây, trên cánh đồng nước ngập Tháng Tám, trên con rạch, trên dòng sông, trên con đường làng, đâu đâu cũng là trăng… Trăng chạy, trăng vui, trăng giỡn, trăng tắm ướt cả cánh đồng mênh mông nước là nước… (…) trăng giã gạo chày ba chày bốn; trăng cút bắt; trăng ca hát trên sông… trăng quết cốm dẹp; trăng ‘ngồi dựa bụi môn’ kiểu Lục Vân Tiên…”

Ông nhớ núi Ba Thê, núi Sập, Hang Tra, Trà Kiết, Vịnh Hanh, Mặc Cần Dưng, Xà Tón, An Bình A, An Bình B, Chắc Cà Ðao, Lấp Vò, Bồ Hút, Thủ Ô, Gia Vàm, Xà Tón, Mái Dầm, Cái Côn, Mương Khai, Cái Vồn, Vàm Ba Bần, Cái Tàu Hạ, Nha Mân, Tân Hiệp, Tân Hưng, Tân Quới… Chỉ nghe cái tên không thôi cũng khiến lòng người nao nao sông nước miền Tây.

Ông nhớ cái thú bắt chim: “Khởi đầu đi bắt chim là chống xuồng xuống đồng lớn, đi vòng vòng mấy vạt lung, vạt đất lúa dày bịt chim trích làm ổ nhiều vô số kể. Mặc tình mà lượm trứng chim. Có hôm gặp thời may đi nhằm vạt đất le le hò hẹn dìa đó làm ổ nhiều… lượm trứng le le gà nước cả mấy khoang xuồng vậy đó.”

“(…) Còn tháng 10, tháng 11 Âm Lịch mình thì chim thay lông. Chim thay lông nó gặp mình là nó bay không xa. Chỉ cất cánh lên vài ba thước là đáp xuống rồi hà (…) Ði bắt chim như vậy vui lắm, và có bữa trúng ổ được chim nhiều lắm. Chim thay lông vừa mọc lông măng, ối thôi nó béo kỳ lạ lắm.”

Nhớ cái thú bắt chuột: “…chuột tháng mưa béo ơi là béo.”

Nhớ cái thú bắt cá: “Cá tát đìa tháng ba tháng tư cặp trứng thè lè xỏ lụi nước trui, dù cá trê hay cá lóc gì cũng không có món nào ngon cho bằng…”

Và nhớ nhiều thứ khác: “Rồi nào là mùa xoài, mùa mận, mùa ổi, mùa vú sữa, mùa dưa hấu, dưa gan, mùa dặm cù, mùa soi cá soi tôm, mùa giăng câu đặt lọp, đặt lờ, mùa bắt ếch bắt nhái, mùa cá ra sông nổi lờ đờ đầy mặt nước.”

Ông nhớ chị Hai Tân An, anh Tú Lé, anh Tư Minh, Tư Thiện, chị Hai Văn, chú Minh, anh Bảy Láng Linh, chú Bảy Luân sắp nhỏ, hai cháu Long Phụng… Những cái tên âm vang Nam Bộ.

Ông nhớ “cái tầm,” một dụng cụ đo đất, dài 2 thước 9 tấc 33 phân. Tầm cắt dài hơn. Mỗi tầm 3 thước. Một công là 144 tầm vuông…

Ông nhớ cỏ và rau: cỏ mồm lông, cỏ mồm đắng, cỏ ống, cỏ chỉ, cỏ lông heo, cỏ gạo, cỏ chát, cỏ cú… năn, lác, rau dừa, rau muống, rau trai, me đất, cỏ xước, nghễ…

Ông nhớ tiếng nói và cách nói của người dân Nam Bộ: “bộn” (nhiều, bề bộn), “cái mững gì” (cái quái gì), “nhiều quá mạng,” “chú thím và sắp nhỏ” (các cháu nhỏ), “đi đồng đi bái,” “sứt móng chưn” (mất móng chân), “dòm trực lại” (nhìn ngay lại), “đi dìa”(đi về), “bên bển”(ở bên đó), “mần ruộng” (làm ruộng)…

Tác giả, nhân tiện đó, giải thích một số từ ngữ hoặc nhóm từ ngữ (đặc ngữ) quen dùng mà ta không biết nguồn gốc từ đâu hoặc biết nhưng biết sai:

-“Một cây” (như: ăn chơi một cây, lấy le một cây, điệu một cây…): “Một cây” do chữ Nho “nhứt trụ kình thiên” = bẻ nạn chống trời. Sau này, một lượng vàng cũng gọi là một cây vàng, nhưng với nghĩa khác hẳn.

-“Cũng:” Đơn giản mà đa nghĩa, tùy cách dùng và hoàn cảnh dùng. Ông cho biết Nguyễn Du dùng đến 128 chữ “cũng” trong truyện Kiều. Nguyễn Ðình Chiểu dùng 37 lần (trong 2076 câu). Theo ông, “Trong cách dùng chữ ‘cũng,’ khác nhau một trời một vực chứ không phải hơi hơi như nhiều người tưởng.” Người  thị dân dùng chữ “cũng” cho nó qua chuyện, cho êm ái tình bằng hữu: cũng hay, cũng được, cũng xong; còn người dân dã, thôn quê thì dùng chữ “cũng” để tỏ lời khiêm cung rất mực: lúa mùa này cũng đỡ, con nhỏ này coi mòi đức hạnh cũng khá… Nhân chữ này, tác giả nhắc lại công án thiền “cũng thấy cũng chẳng thấy,” kể lại câu chuyện giữa sư Thần Hội với Lục Tổ Huệ Năng trong việc tu học, rất thâm thúy. Từ chuyện nhà quê, tác giả đưa ta tới một trong những đỉnh cao của triết học Đông phương.

-“Mẹ gà con vịt:” Người ta lựa trứng tốt, có trống để nhờ vịt xiêm hoặc gà ấp, chứ không phải là người ta nhặt đại trứng vịt đẻ ngoài đồng về cho gà ấp (nếu không có trống thì làm sao mà nở ra gà con được).

-“Ở bầu thì tròn ở ống thì dài:” Chỉ để nói về nước thôi chứ không nói về gì khác. Tác giả cực lực bài bác ý kiến cho rằng câu trên là để chỉ người ta nuôi gà ống (gà trong ống tre).

-“Nhĩ thuận:” Trong câu nói của Khổng Tử, Thiên Vi Chính, Luận Ngữ. Có thuyết cho rằng “nhĩ” đây là “dĩ” (thôi, đã qua) không phải là tai. Còn Phan Bội Châu và Nguyễn Hiến Lê thì cho “nhĩ” là tai. Nói đúng thì phải là “lục thập nhĩ thuận” chứ không phải “lục thập thuần nhĩ” như ta thường nghe.

-“Cọp” (coi hát cọp, cọp dê): Chữ “cọp” đây là từ chữ Pháp “copier,” nói trại ra là “cọp dê.” Từ đó phát sinh ra các chữ coi hát cọp, xài cọp, đọc báo cọp, nghĩa là coi ké, xài tiền ké, đọc ké, không tốn tiền và công sức. Tác giả phân biệt “cọp” và “chùa.” Cả hai đều có nghĩa là không tốn tiền nhưng cách dùng thì khác. Chữ “cọp” liên quan đến tinh thần: đọc báo cọp, coi hát cọp; chữ “chùa” liên quan đến vật chất: ăn chùa, hút chùa.

-“Coi hát hạng cá kèo:” Chỉ hiện tượng cá kèo hè nhau nhóng cổ đầy dẫy cặp theo các bờ ruộng vào mùa nước đứng ròng, nên gọi là “cá kèo nhóng cổ.” Coi hạng cá kèo là coi hạng bét, xa sân khấu, bị khán giả phía trước che khuất nên ngóng cổ lên mới xem được gọi là coi hát hạng cá kèo.

-“Giồng:” Tức là đất giồng, vốn là những gò cát chạy dài , nên chính trong lòng nó, cát đã là những hạt bụi khô hạn vậy. Vì thế, từ cái chỗ trồi mình lên cao nên nó ít bị ngập mà người ta mới quy tụ lên “giồng” để tìm cách sinh nhai…” Từ đó, ta mới có những địa danh ngộ nghĩnh như Giồng Trôm, Giồng Ông Tố hoặc các đặc sản như “rượu giồng,” “gà giồng”…

Theo ông, ngôn ngữ nói chung đều do kinh nghiệm thực tế mà hình thành. Không có kinh nghiệm, người ta sẽ không hiểu hay hiểu sai hẳn ý nghĩa của chúng.

“Lá Thư Từ Kênh Xáng” không chỉ là nỗi nhớ về vùng quê, mà còn chứa đựng tư tưởng. Từ kinh nghiệm ruộng đồng cụ thể, ông mở rộng suy gẫm của mình đến các tư tưởng lớn của Đông phương như Khổng Giáo, Phật Giáo, Lão Giáo và các tác phẩm thơ văn hay biên khảo của nhiều tác giả lừng danh Việt Nam và Trung Quốc như Tô Ðông Pha, Nguyễn Khuyến, Phan Bội Châu, Sơn Nam, Nguyễn Hiến Lê, Ðông Hồ, Vũ Hoàng Chương… Và ngược lại. Quê mà không quê tí nào. Bàng bạc qua 370 trang giấy, tác phẩm toát lên một thứ triết lý mà tác giả gửi gắm vào. Tôi tạm gọi đó là “triết lý nhà quê.” Xin ghi lại một vài trích đoạn nằm rải rác trong tác phẩm:

-“Nghĩ cho cùng không có người nhà quê làm gì có kẻ chợ; không có người dốt làm sao có được kẻ khôn.”

-“Ở nhà quê mình, coi vậy mà nhất nhất việc gì cũng có cái lễ nghĩa trong đó nghe chú ba.”

-“Tại cái bụng người đời ưa lấy cái có làm giàu, lấy cái mới làm tốt, lấy cái sang làm trọng, lấy cái học làm cao nên mọi cái khác khi không cần hoặc quá quen thuộc cứ tưởng là mình không bao giờ dùng tới nữa, rồi đâm ra mau quên.”

-“Chú biết chắc chắn một điều là ở nơi chú bây giờ đây không có cái gì “chính thống” cho bằng lấy ruộng làm gốc, lấy quê làm nguồn.”

-“Từ đời ông cố ông sơ rồi tới đời ông nội… tính có hàng trăm, hàng trăm chỉ biết lấy ruộng làm gốc, lấy quê làm nền. Từ trong ruộng mới đẻ ra cái lòng bền bỉ, kiên nhẫn chịu đựng (…) …Ở trên đời này không có đức chịu đựng, chịu thua, chịu lép như vậy chưa chắc gì đời nay cũng như đời xưa có được giới chữ nghĩa, giới thầy chú, giới quan quyền, giới trí thức trí thiết ăn trên ngồi trước trong xã ngoài làng, trên tỉnh ngoài huyện như từ hồi nào tới giờ…”

-“Nước có thể mất, nhà có thể tan, nhưng cái nền nhà quê vẫn còn hoài hà, khó ai có thể bứng nó dời đi được.”

-“Cái mùi hương hoa đất nước nó làm nên tiến sĩ này, bác vật kia chú nghĩ là cái mùi lúa mới ấy chứ không có trí thức trí thiếc “chính thống” hay “không chính thống” gì ráo trọi. Nó là nền là gốc của mọi nề nếp văn hóa Việt Nam mình.” (…) “Những ông già bà cụ là những người không rao giảng văn hóa bao giờ; thế mà chính họ là những nhà văn hóa thứ thiệt.”

Rốt cuộc, nói là nhớ, thực ra, Hai Trầu suy gẫm. Không phải là những suy gẫm lang bang “tiền chế”, mà là những suy gẫm “hậu-chế,” xuất phát từ hiện thực cuộc sống của chính anh. [qd]


Hai Trầu là một bút hiệu khác của nhà văn Lương Thư Trung. Ông sinh trưởng ở Tân Bình, Sa Đéc. “Lá Thư Từ Kênh Xáng” do Thư Ấn Quán của Trần Hoài Thư phát hành, là một trong hơn 10 tác phẩm của ông đã được xuất bản cho đến nay, trong đó có “Bến Bờ Còn Lại,” “Tình Thầy Trò,” “14 Tác Giả, Mỗi Người Một Vẻ,” “Nhớ Về Những Bến Sông,” “Mùa Màng Ngày Cũ,” “Người Đọc và Người Viết” (4 tập)…


 

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT