Cựu huấn luyện viên phi công Lê Văn Chóc dạy bay tại Phan Rang

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Khi chính thức trở thành một phi công sau thời gian thụ huấn ngành lái phi cơ ở Mỹ từ năm 1969 đến 1972, ông Lê Văn Chóc, cựu Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ) Không Quân Phi Hành Khóa 70A, còn phải học thêm các khóa khác.

Cựu Không Quân Lê Văn Chóc tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ, Westminster. (Hình: Lê Văn Chóc cung cấp)

Chẳng hạn như tân phi công Lê Văn Chóc chọn Khóa Khu Trục A-1 là loại phi cơ tác chiến, và còn nhiều khóa khác dạy lái các phi cơ vận tải như C-47, C-130, C-7… Và cũng tùy theo điểm cao thấp khi họ ra trường mới được học, theo thứ tự điểm cao được chọn trước, đậu điểm thấp phải chọn sau.

Học lái Khu Trục A-1

“Khóa chúng tôi có 30 khóa sinh, có tám anh em trong đó có tôi tình nguyện tập bay Khu Trục A-1. Khu Trục A-1 là chiếc tàu bay nổi tiếng trong chiến trường Việt Nam. Khu trục là những chiếc tàu bay có thể đánh bom được,” ông Chóc kể với phóng viên nhật báo Người Việt tại Westminster, một thành phố trung tâm của Little Saigon, nơi có cộng đồng người Việt lớn nhất hải ngoại.

Ông cho hay, Không Quân VNCH có ba Phi Đoàn Khu Trục, sáu Phi Đoàn F-5 và 10 Phi Đoàn A-37. Trong 10 Phi Đoàn A-37 được chia đều ra, bao gồm ba Phi Đoàn A-37 đóng tại Đà Nẵng, ba Phi Đoàn A-37 ở Phan Rang, ba Phi Đoàn A-37 ở Cần Thơ, và một Phi Đoàn A-37 đồn trú tại Phù Cát.

Ông tâm tình: “Khi tôi tình nguyện vào Quân Chủng Không Quân VNCH thì bất cứ giá nào tôi cũng muốn được trở thành một phi công của Khu Trục A-1. Do đó, một điều may mắn cho tôi là khi sang Hoa Kỳ thì tôi được quân trường huấn luyện cho tôi được trở thành một phi công của Khu Trục A-1.”

“Khi tám anh em chúng tôi tập bay Khu Trục A-1 khoảng một tháng thì có lệnh của Bộ Tư Lệnh Không Quân VNCH cho biết là ngưng chương trình huấn luyện tám anh em chúng tôi tập bay chiếc A-1. Lý do là số phi công lái chiếc A-1 tại chiến trường Việt Nam bị thặng dư, nên quân trường không tiếp tục huấn luyện chúng tôi nữa. Vì thế họ mới đưa tám anh em chúng tôi qua chương trình đào tạo huấn luyện viên của chiếc T-37 tại căn cứ Big Spring Air Force Base, Texas.”

Ông cho biết thêm: “Anh em chúng tôi được huấn luyện sáu tháng tại căn cứ này, cũng theo chương trình là buổi sáng học bay thì buổi chiều học địa huấn, hay ngược lại. Sau sáu tháng, chúng tôi đã hoàn tất chương trình huấn luyện viên của chiếc T-37 (là tiền thân của những chiếc A-37 hay B-37), và chiến trường Việt Nam được sử dụng chiếc A-37 trong những tháng này cuối cùng chấm dứt cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam.”

Tại căn cứ Big Spring Air Force Base, Texas, trong chương trình tập bay chiếc T-37 các phi công được các huấn luyện viên hướng dẫn rất kỹ lưỡng để được trở thành một huấn luyện viên phi công của loại chiến đấu cơ này. Khi bay, cả hai phương diện về sự điều khiển loại máy bay này bằng cặp mắt và sử dụng các phi cụ đều rất quan trọng, mà người phi công phải có đủ khả năng về sức khỏe cũng như nhanh trí phải đạt đúng tiêu chuẩn là trách nhiệm của một phi công lái chiếc T-37 hay A-37. Vì đây là loại chiến đấu cơ đặc biệt được sử dụng tại chiến trường Việt Nam thời đó.

Sau đó, các khóa sinh huấn luyện viên được đưa về căn cứ Wichita Falls, Texas, để học ba tháng về cách thức giảng dạy cho các SVSQ Không Quân thụ huấn lái chiếc A-37. Vì quân trường Không Quân Hoa Kỳ muốn các khóa sinh huấn luyện viên phải có khả năng giảng dạy để cho các học viên phải chú ý, cũng như tư cách của một huấn luyện viên đang giảng dạy phải trong tư thế nào, nhất là trong tư thế không che mắt của các học viên khi chăm chú lên bảng hay màn hình mà người thầy đang thuyết trình.

Cựu Không Quân Lê Văn Chóc và vợ tại Little Saigon. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Huấn luyện viên phi công A-37 tại phi trường Phan Rang

Cựu huấn luyện viên Lê Văn Chóc kể: “Tháng Tư, 1972, chúng tôi về nước. Đơn vị đầu tiên tôi làm việc là phi trường Phan Rang. Lý do tôi về làm việc đầu tiên ở đây vì phi trường Phan Rang ngày xưa là của Không Quân Hoa Kỳ, nên rất hoàn chỉnh về phi đạo và cũng rất dài đến 10,000 bộ. Còn phi trường Nha Trang ngày xưa do người Pháp làm chỉ có 6,000 bộ thôi. Nhưng nếu để cho máy bay phản lực lúc cất cánh cũng như đáp xuống được an toàn, thì phi đạo phải được dài 10,000 bộ trở lên.”

Ông nói thêm: “Vì thế phi trường Nha Trang vừa cũ và phi đạo vừa ngắn nên không đủ tiêu chuẩn cho chúng tôi về huấn luyện cho các học viên học lái chiếc phản lực A-37. Do đó anh em chúng tôi tuy thuộc về sự lãnh đạo của căn cứ Không Quân Nha Trang, nhưng chúng tôi phải đến làm việc tại trường huấn luyện Không Quân Phan Rang.”

Cũng theo ông Chóc, xứ Phan Rang lúc đó rất buồn, thức ăn thì không có đầy đủ, nên thức ăn sáng phần nhiều là mì gói, hoặc lương khô của quân đội cung cấp. Và nơi này cũng là địa điểm nóng nhất tại Việt Nam. Vào mỗi buổi sáng sớm đi công tác huấn luyện cho các khóa sinh tập bay, nếu hết mì gói thì hôm đó các huấn luyện viên phải ăn lương khô của quân đội cung cấp, nhưng nếu không ăn nổi nữa thì họ đành phải nhịn đói.

Ông Chóc kể: “Có những lúc đi bay huấn luyện cho hai khóa sinh một lúc để tập nhào lộn trên không. Khi huấn luyện xong học viên thứ hai thì tôi rất thấm mệt. Có lúc mang trên mình dù an toàn nhưng về đến phi trường thì tôi không còn đi bộ nổi nữa, vì quá đói.”

Những ngày tháng cuối cùng trong quân ngũ

Sứ mạng của huấn luyện viên Không Quân Lê Văn Chóc là chuyên đào tạo những phi công A-37 để bổ sung cho những phi đoàn tác chiến khắp bốn vùng chiến thuật. Mỗi khóa độ chừng 20 đến 30 khóa sinh. Trong thời gian huấn luyện, ông Chóc đã dạy khóa thứ nhất gồm những sĩ quan tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Việt Nam được về Nha Trang học lái chiếc T-41. Sau đó, họ được về Phan Rang để tập lái chiến đấu cơ A-37.

Khóa thứ hai là khóa Không Quân Phi Hành cũng phải học bay chiếc T-41 tại Nha Trang. Sau khi những phi công đậu được hạng cao của T-41 thì họ được chuyển vào căn cứ Không Quân Phan Rang để tập lái chiếc A-37.

Khóa thứ ba đào luyện các phi công chỉ khoảng ba tháng, khi các khóa sinh vẫn còn đang tình trạng tập huấn, thì biến cố 30 Tháng Tư, 1975, xảy ra.

Võ sư Lê Văn Chóc tại Westminster Civic Center. (Hình: Lê Văn Chóc cung cấp)

Cựu Không Quân Lê Văn Chóc tâm tình: “Chương trình huấn luyện các phi công tại Việt Nam là cơ hội để cho ngành Không Quân của Quân Lực VNCH được phát triển mạnh, vì các khóa sinh không cần phải sang Hoa Kỳ để được đào luyện quá nhiều tốn kém. Nhưng vận nước điêu linh, các khóa huấn luyện phi công tại Việt Nam không được bao lâu thì miền Nam bị thất thủ. Đó là điều rất đau lòng cho các anh em huấn luyện viên của chúng tôi, và không lực của VNCH.”

Trong lúc hỗn loạn, vì cộng quân tấn công mạnh vào miền Trung, các phi trường đều bị thất thủ. Huấn luyện viên Lê Văn Chóc di tản từ Phan Rang vào đến phi trường Tân Sơn Nhất vào ngày 29 Tháng Tư, 1975. Rồi sau đó, ông cùng nhiều người khác bay sang Thái Lan. Không bao lâu, ông được quân đội Hoa Kỳ đưa vào đảo Guam.

Tháng Bảy, 1975, ông được định cư tại Florida. Đến năm 1977, ông di chuyển về California cho đến bây giờ.

Sau hơn 35 năm làm việc tại miền Nam California trong nhiều ngành nghề, nay ông là một võ sư huấn luyện viên của môn võ Taekwondo Đại Hàn. Trước đó, ông đã được võ sư Yun huấn luyện tại Võ Đường Taekwondo Santa Ana, và võ sư Choi huấn luyện tại Võ Đường Garden Grove.

Sau đó, ông sang Nam Hàn tiếp tục học Taekwondo Đại Hàn tại Võ Đường Kukiwon và được tốt nghiệp võ sư huấn luyện viên 7 đẳng Taekwondo Đại Hàn.

Hiện nay, ông là võ sư huấn luyện viên môn võ Taekwondo Đại Hàn tại Westminster Civic Center, 8200 Westminster Blvd., Westminster, CA 92683. Giờ học từ 9 giờ sáng đến 12 giờ trưa Thứ Bảy mỗi tuần.

Các học viên muốn tham dự phải đến ghi danh tại Westminster Civic Center và đóng học phí tượng trưng cho thành phố $25 mỗi tháng. Những người lớn tuổi thì được miễn phí.

Muốn biết thêm chi tiết, xin liên lạc võ sư Lê Văn Chóc qua số điện thoại (714) 883-2580. [qd]

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT