Lâm Hoài Thạch/Người Việt
WESTMINSTER, California (NV) – Cựu Thiếu Tá Hồ Đắc Huân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) nhập ngũ ngày 1 Tháng Tám, 1956. Đến ngày 27 Tháng Hai, 1961 được tham dự Khóa 2 Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ) Hiện Dịch Đặc Biệt Nha Trang, và ra trường ngày 31 Tháng Giêng, 1962.

Nhớ lại những ngày học tại Quân Trường Đồng Đế ở Nha Trang, chàng SVSQ 19 tuổi Hồ Đắc Huân, sinh ngày 1 Tháng Giêng, 1937 tại huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, cũng như bao khóa sinh khác, luôn nhớ mãi khẩu hiệu “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu.”
Ngồi tại nhà riêng ở Westminster, một thành phố trung tâm của Little Saigon, nơi có cộng đồng người Việt lớn nhất hải ngoại, cựu Thiếu Tá Huân kể với phóng viên nhật báo Người Việt: “Qua hai tháng huấn nhục, các SVSQ tuần tự học ‘chiến tranh tâm lý học’ về học thuyết nhân vị; nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy; an ninh tình báo; truyền tin; địa hình, quân kỹ, quân xa… Còn về vũ khí thì các SVSQ học thêm cách sử dụng các loại súng lớn như trung liên, đại liên, súng cối 60 ly và 81 ly, đại bác không giựt 57 ly, Bazooka… Ngoài ra, chúng tôi còn được học thêm về cách sử dụng mìn bẫy, các loại lựu đạn của ta và của địch.”
“Còn chiến thuật thì qua giai đoạn này, chúng tôi được học về chiến thuật cấp tiểu đội. Trong đó có phương pháp tiểu đội đi tuần tiễu; tiểu đội phục kích; tiểu đội phản phục kích; tiểu đội đột kích hay mở đường. Song song đó cũng có các chiến thuật đổ quân bằng trực thăng vận, tấn công bằng đạn thật, lục soát làng Việt Cộng, tác chiến trong thành phố, vượt sông…” ông kể thêm.
Cũng theo ông, khi hoàn tất cả các đề tài chiến thuật về cấp tiểu đội thì các SVSQ được huấn luyện những chiến thuật cho cấp trung đội và đại đội. Sau cùng học về những phương pháp “Tham Mưu Chiến Thuật” về những căn bản của thế công và căn bản của cách lui binh.
“Môn học về chiến thuật các khóa sinh chúng tôi thích thú nhất, vì phải ứng biến theo nguyên tắc về chiến thuật cộng với những kinh nghiệm chiến trường. Hơn nữa, môn học này điểm hệ số rất cao trong kỳ thi cuối khóa, cả lý thuyết lẫn thực hành,” ông hào hứng.
Sau khi Đại Tá Đỗ Cao Trí về làm chỉ huy trưởng Quân Trường Đồng Đế thì môn học Di Hành được áp dụng. Cứ khoảng hai tuần là các SVSQ có cuộc thực tập di hành. Lúc đầu thì các khóa sinh hành quân đổ bộ gần, sau đó thì đi xa hơn. Chuyến đi di hành xa nhất là từ Quân Trường Đồng Đế đến Ba Ngòi khoảng 50 cây số. Ngoài ra còn có những chuyến di hành xuyên qua rừng núi để đến thắng cảnh Ba Hồ.
Trong thời gian đào luyện, các SVSQ Khóa 2 Nhân Vị còn được giao nhiệm vụ dựng cột cờ trên đỉnh cao Hòn Khô. Cứ mỗi chiều Thứ Bảy, Tiểu Đoàn SVSQ phải mang nước, cát, sỏi, gạch và xi măng lên tận đỉnh Hòn Khô, khoảng chừng bốn lần di chuyển thì mới đủ vật liệu để xây dựng.
Sau hai tuần xây dựng thì công trình được hoàn tất, và lá cờ VNCH được tung bay ngạo nghễ trên đỉnh núi Hòn Khô. Các tàu bè đi ven biển Nha Trang, và từ xa trên cao thành phố Nha Trang cũng đều trông thấy lá cờ này được tung bay phất phới. Đó là công sức của các SVSQ Khóa 2 Nhân Vị.

Học môn thể dục và thể thao “kinh dị”
Về môn thể dục thì mỗi buổi sáng, các khóa sinh phải chạy bộ từ quân trường đến Tháp Bà, rồi trở về vũ đình trường và sau đó có 20 phút để tập thể dục tại chỗ. Trong các môn học về thể dục và thể thao, các SVSQ ngày đêm lo âu phải đi dây tử thần, và những lúc đi cầu dây tuột núi.
“Những môn học này rất kinh dị và phải nói rất nguy hiểm, các khóa sinh chỉ sơ suất một chút thôi thì có thể thiệt mạng dễ dàng. Nhưng cuối cùng rồi các khóa sinh cũng phải thực hiện được, do sự quyết tâm học tập của họ,” ông nói.
Riêng về môn “Cơ Bản Thao Diễn” do các sĩ quan trong đại đội của quân trường huấn luyện theo phương pháp của Quân Đội Hoa Kỳ.
Ông cho biết thêm: “Trong chương trình võ luyện thì quân trường có hai vấn đề làm cho các khóa sinh rất thích, đó là trong thời gian học võ, chúng tôi không cần phải chép bài, vì có tài liệu đã in sẵn dành cho các khóa sinh, kể cả các phiếu huấn luyện của các môn học cũng được các huấn luyện viên soạn trước, được sự chấp thuận của Bộ Tham Mưu Quân Lực VNCH. Quân trường cũng đã ấn hành sách để cấp phát cho các khóa sinh, nên chúng tôi đều có sẵn tài liệu để tham khảo về võ thuật trước những đề tài sắp được huấn luyện.”
“Vấn đề thứ hai là để tổng hợp tất cả ghi nhận được trong các môn học trong tuần, vào mỗi chiều Thứ Bảy có hai giờ khảo hạch qua bài thi. Việc thi cử do Trung Úy Nguyễn Trọng Đức, trưởng Ban Khảo Hạch, trông coi rất nghiêm ngặt. Các SVSQ được đủ điểm khảo hạch sẽ được đi phép vào cuối tuần sau. Còn các khóa sinh nào thiếu điểm khảo hạch (điểm đỏ) thì hôm sau, vào Chủ Nhật phải lên giảng đường ôn bài có sự kiểm soát của sĩ quan trực. Dù hôm ấy có thân nhân hoặc vợ con từ Sài Gòn hay Huế vào thăm, thì họ cũng được gặp nhau tại phòng tiếp tân của quân trường, chứ không được gặp nhau ở ngoài phố,” ông nhớ lại.

“Chào xã giao” bằng 50 cái hít đất, 50 cái nhảy xổm
Sau khi hoàn tất chương trình huấn luyện tại Đồng Đế, các SVSQ chuẩn bị tinh thần, vì sẽ được phân bổ đi đại diện các đại đơn vị để thực tập ba tháng như khóa đàn anh. Nhưng vào một buổi chiều hạ tuần của Tháng Mười Một, 1961, nghe qua nhật lệnh Tiểu Đoàn SVSQ chuẩn bị lên Dục Mỹ để thụ huấn Khóa Cán Bộ Biệt Động Quân. Vì thế trong đêm đó, các SVSQ bàn tán với nhau là, khi học làm cán bộ của Biệt Động Quân chắc là vất vả lắm.
Ông Hồ Đắc Huân kể: “Nhưng lúc đó anh Nguyễn Xuân Thọ cùng trung đội với chúng tôi, và anh đã có kinh nghiệm về quân trường Dục Mỹ. Anh Thọ cho hay là, ‘Đi học khóa Biệt Động Quân có gì mà lo. Vì trường Biệt Động Quân ở Dục Mỹ là tiền thân của Quân Trường Đồng Đế.’ Anh Thọ còn cho biết thêm là, ‘Như vậy, anh em mình sẽ được ra trường sớm hơn, vì học Biệt Động Quân chỉ có 42 ngày, còn thực tập đến ba tháng. Nhưng dù sao thì cũng học vất vả hơn ở đây.’”
“Theo anh Thọ, các khóa sinh lúc nào cũng phải thủ súng cầm tay, mỗi khi di chuyển đều phải chạy, còn phải học nhiều giờ vào ban đêm và không có ngày nghỉ vào mỗi Chủ Nhật. Ngoài ra, khóa sinh còn phải học khóa vượt sình lầy tại đèo Rọ Tượng để học cách tấn công địch vào rạng đông. Còn đi dây tử thần thì cũng giống như ở Quân Trường Đồng Đế, nhưng phải cẩn thận mỗi khi di chuyển địa hình, phải đi đúng phương giác để không đi lọt vào những bãi mìn, thì sẽ bị ‘toi’ mạng. Còn tiếng la trong thể thủ ‘Sát! Biệt Động Quân sát!’ Là phải vang dội cả Quân Trường Dục Mỹ,” ông Huân kể thêm.
Vào sáng 30 Tháng Mười Một, 1961, một đoàn quân xa của Quân Vận đến đưa các SVSQ Khóa 2 Nhân Vị đi thụ huấn tại Quân Trường Dục Mỹ. Đến nơi, các khóa sinh tập họp xong thì có hai sĩ quan đến “chào xã giao” với các SVSQ liền, đó là chào tập thể với 50 cái hít đất, 50 cái nhảy xổm cho mỗi khóa sinh. Xong rồi, các khóa sinh trong tư thế súng cầm tay, vai mang ba lô chạy năm vòng vũ đình trường. Sau đó mới được đi nhận phòng ở. Rồi tiếp tục theo chương trình 42 ngày thụ huấn.
Ông Huân nhớ lại: “Tuy thời gian học Biệt Động Quân cách nay gần sáu thập niên, song tôi vẫn còn nhớ hai điểm đặc biệt. Thứ nhất, gần mãn khóa học có phái đoàn báo chí Việt Nam và ngoại quốc đến thăm trường. Đại Đội 26 chúng tôi đảm trách biểu diễn đi dây tử thần khô. Có nghĩa là khi bung róc rách trên dây cáp ở độ cao 25 mét, theo dõi cờ sĩ quan phất là phải co tròn người lại để thân hình rơi trên cát. Đây là màn biểu diễn rất nguy hiểm có thể ảnh hưởng đến tính mạng hoặc bị thương nặng. Vì thế quân trường đã cho xe cứu thương túc trực tại nơi biểu diễn.”

“Thứ hai là chương trình học có bài ‘Phục kích ban đêm’ trên sình lầy. Các khóa sinh chúng tôi phải sử dụng áo mưa poncho ngồi trên các cành cây chờ địch đi qua. Tuy rằng thụ huấn bài phục kích ban đêm không nguy hiểm, nhưng chúng tôi phải lội sình dưới mưa suốt đêm không ngủ rất là vất vả,” ông nhớ như in.
Ông Huân cho biết thêm, khi thụ huấn tại Dục Mỹ, các khóa sinh Khóa 2 Nhân Vị có gặp Đại Tá Đặng Văn Sơn từ Đồng Đế ra làm chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân. Thỉnh thoảng ông cũng đến các bãi tập để thăm hỏi, đốc thúc việc thụ huấn của các khóa sinh cần phải cố gắng để đạt được kết quả tốt.
Ông kể tiếp: “Ngày 5 Tháng Giêng, 1962 là mãn khóa học Biệt Động Quân tại Dục Mỹ. Anh em khóa sinh chúng tôi được trở lại Quân Trường Đồng Đế. Lúc bấy giờ, trên ngực áo của các SVSQ Khóa 2 Nhân Vị được mang bằng Biệt Động Quân bằng kim khí hay thêu trên vải. Đến khi ra đơn vị, chúng tôi rất hãnh diện khi mang bằng Sình Lầy Biệt Động Quân trên áo.” (Lâm Hoài Thạch) [qd]

































































