Anh Tâm – Huỳnh Phan Anh

 

Vũ Trọng Quang

Dịch giả Huỳnh Phan Anh tên thật là Huỳnh Thanh Tâm, sinh năm 1940 tại Bình Dương, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Đà Lạt và là giáo sư triết học tại miền Nam. Nhưng sự nghiệp của ông gắn liền với hoạt động dịch thuật và phổ biến tác phẩm văn chương triết từ các nước đến với người đọc Việt Nam từ trước 1975.

Ông qua đời lúc 16h45 ngày 30-8-2020 tại San Jose, California, Hoa Kỳ sau một thời gian nằm bệnh, hưởng thọ 81 tuổi.

Dịch giả Huỳnh Phan Anh. (Hình: Tuổi Trẻ_

Anh Tâm. Tôi thường gọi thân mật theo tên thật Huỳnh Thành Tâm, anh giải thích về bút danh Huỳnh Phan Anh của anh, Huỳnh tức họ Huỳnh trong khai sinh, Phan là họ của mẹ, Anh là từ tên Ánh của người chị bỏ dấu sắc, một bút danh như gom cả gia đình. Tâm còn hiểu như tâm hồn, như trái tim.

Đa phần đều biết nhà văn dịch giả nhà nghiên cứu phê bình qua các tác phẩm đáng chú ý như: Văn Chương Và Kinh Nghiệm Hư Vô (Nhà xuất bản (NXB) Hoàng Đông Phương, 1968); Đi Tìm Tác Phẩm Văn Chương (NXB Đồng Tháp, 1972), tập truyện Người Đồng Hành (NXB Đêm Trắng, 1969), truyện vừa Những Ngày Mưa (NXB Đêm Trắng), Chuông Gọi Hồn Ai (tiểu thuyết, Ernest Hemingway, NXB Văn học), Tình Yêu Bên Vực Thẳm (tiểu thuyết, Erich Maria Remarque, NXB Trẻ), Sa Mạc (tiểu thuyết, J.M.G Le Clézio, NXB Hội Nhà văn), Một Mùa Địa Ngục (thơ Arthur Rimbaud, NXB Văn học), Tuyển Thơ Tình Yêu (Paul Eluard, NXB Hội Nhà văn), Thơ Yves Bonnefoy (NXB Hội Nhà văn), Thế Giới Của Sophie (NXB Thế Giới)…

Nhưng rất ít người biết anh là nhà thơ, đây, xem anh có lời mở trong tập Thơ Tự Do (*): “Dường như thơ tự do đã có từ lâu mà không được gọi tên, ngày nay nó đã trở thành tiếng thơ toàn cầu và không ai buồn gọi tên nó nữa, đơn giản thơ tự do là thơ. Những bài Nhã Ca trong Kinh Thánh là những bài thơ tình rất tự do, và hàng ngàn năm trước công nguyên, kinh Vệ Đà, thơ Homère nào có chịu sự chi phối bởi luật trắc, vần điệu máy móc nào nếu không nói đó là những câu thơ tự do đầu tiên…”

Xin trích một đoạn bài thơ của anh trong Thơ Tự Do 10 Tác giả, do tôi tập hợp:

Ánh Sáng Cong

Ngày cong xuống trên lối đi
Qua đồ vật đóng bang

Lời nói như đá cuội

Rơi tỏm vào đáy sâu

Theo con nước ngọc ngà của ánh bạc
Xác lá cùng cỏ khô

Ôm bước chân tôi

Và tôi ngủ

Giấc ngủ cuộn tròn ẩm ướt

Rơi vào khoảng trống
Rơi vào sự rơi rụng

Và khởi đầu, khởi đầu
. (Huỳnh Phan Anh)

Từ yêu thơ ông viết nhiêu tiểu luận về thơ:

Huỳnh Phan Anh nhận định “Hàn Mặc Tử hay là hiện hữu của thơ” đã băn khoăn với hàng loạt câu hỏi: “Trong ám ảnh của cái chết, trong thôi thúc của thời gian, trong khả hữu của hư vô toàn diện, đâu là cơ hội sau cùng của thi sĩ? Đâu là sự cứu rỗi cho phận số hữu hạn? Phải chăng đó là niềm tin ở một đấng? Phải chăng đó là phút huy hoàng mãnh liệt và đầy ắp? Phải chăng đó là sự kêu đòi hay nguyện cầu vô vọng?”

Anh đã dịch nhiều thơ, như Tuyển thơ tình yêu của Paul Eluard, thơ Yves Bonnefoy…, và đặc biệt Rimbaud toàn tập, anh làm việc đầy trách nhiệm với lời hứa hẹn đúng thời hạn với nhà xuất bản; đến nỗi dịch cả ngày dêm, trước giờ lên máy bay, kết quả anh bị đột quỵ và sức khỏe yếu đi; ra phi trường phải nhờ người em dìu ra.

Anh là người đam mê tiểu thuyết mới, anh rất thích Phan Thị Vàng Anh và đã viết một tiểu luận Bước vào thế giới truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh, vì tác giả “Khi Người Ta Trẻ” có bút pháp tân truyện cùng tần số với anh.

Mỗi thời đại có tiếng nói riêng của nó. Tiểu thuyết mới trước hết là nỗ lưc làm mới ngôn ngữ. Mỗi nhà văn thực hiện một cách thế sử dụng ngôn ngữ… Xa hơn ngôn ngữ, tiểu thuyết mới đánh dấu sự trưởng thành của kỹ thuật tiểu thuyết. Tiểu thuyết không chỉ là câu chuyện kể một cách dung dị thơ ngây. Ðó là sự tìm kiếm một lối kể, một cách viết, một kỹ thuật. Ðây là vấn đề nội dung và hình thức. Có người cho rằng trong hình thức có nội dung và ngược lại. Kafka nói: “Văn chương chỉ là kỹ thuật.”

Thời còn ở Sài Gòn, anh sống rất khó khăn, eo hẹp tài chánh, có khi ngồi lai rai với tôi, anh mua bánh mì làm mồi. Chị Ý Nhi nhờ anh dịch những cuốn sách tiếng Pháp, chị rất quí anh và thường đưa đủ thù lao, chứ không ứng trước phần % như những ông “bầu” khác, đáp lại nồng nhiệt của chị, anh giao “hàng” đúng như lời hứa. Tuy khó khăn như vậy nhưng anh muốn ở lại Việt Nam, vì ngôi nhà thừa tự và còn một người em trai, con gái anh là Huỳnh Thị Thanh Tuyền đòi bảo lãnh anh ra nước ngoài, anh dùng dằng không muốn đi, đến nỗi cháu Tuyền phải ra tối hậu thư,” nếu ba không qua với tụi con, con sẽ không lấy chồng,” cuối cùng anh lên đường, để lại ngôi nhà cho người em trai.

Ngày xưa Nhóm Sáng Tạo gôm Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp… là một tạp chí làm cuộc cách mạng văn chương, lừng lẫy. Anh Huỳnh Phan Anh và Dương Văn Ba (dân biểu), gửi Thư gửi nhóm Sáng Tạo trên Tuần báo Mã Thượng Sài Gòn, lúc ấy anh mới 21 tuổi, “phản ứng” lại nhóm, xin trích đăng một đoạn:

Nếu các anh trách nghệ thuật tiền chiến say ngủ mơ màng trước vận động diễn hành của đời sống, [như vậy là] bao gồm ý nghĩ bất lực, đớn hèn, thì ngày nay ý thức “làm mới, lay động, đốt cháy, sáng tạo sự vật” của các anh cũng đã nói lên sự thất bại trước cuộc sống. Chiến thắng trước đời sống không có nghĩa là tiêm vào ý thức nghệ thuật niềm khát vọng cải tạo cuộc đời, như những người của nghệ thuật tượng trưng đã có thời tham vọng thực hiện. Chiến thắng trước đời sống chỉ có nghĩa là chấp nhận nó, trần truồng, mới nguyên, và trọn vẹn, không cần thắc mắc, không cần tra hỏi và tách biệt hẳn những ám ảnh của những môn học sách vở đầy ngập những chủ nghĩa, lý thuyết, phán đoán, danh từ. Một nụ cười viên mãn, một nét nhăn đăm chiêu nổi loạn, hai thái độ này không cần thiết cho một thái độ trưởng thành đối diện với thực-tại-từng-phút-từng-giây.

Trước một kích thích, tôi đã biểu tỏ một phản ứng. Tôi lập lại, những ý nghĩ trên đây không ở chỗ tiếp nhận hay bác bỏ. Vì chúng chỉ nói lên một phản ứng tự phát và độc lập.

Tuy anh phản ứng nhóm Sáng Tạo ‘nhẹ nhàng” vậy, nhưng khi Thanh Tâm Tuyền tái bản cuốn Bếp Lửa lần thứ tư vào năm 1973 lại nhờ anh viết lời Bạt: Mấy ghi nhận về Bếp Lửa; tài năng trân trọng tài năng, văn chương chân chính là ở chỗ đó.

Tôi thường trò chuyện với anh Huỳnh Phan Anh qua messenger, nhưng gần đây do bệnh nặng nên thấy anh không còn trao đổi với tôi, cách nay khoảng một tháng, tôi có viết bài về cuốn Bãi Hoang do anh dịch của Jean-René Huguenin, con gái anh đọc được và chuyển cho anh, anh xem và nhờ con gái, con nói cho ba gửi lời cám ơn chú Quang, vì không dùng vi tính được. Không ngờ đó là những ngày gần cuối anh ra đi, sáng ngày 31/8/2020 anh mất, dĩ nhiên sống là đi đến cõi vô cùng, nhưng tôi bàng hoàng đăng bản tin ngắn vội vàng chia buồn trên Facebook không nói được hết ý.

Không còn tôi và anh ngồi tay đôi với nhau, Trống Đồng bây giờ trống vắng người bạn thiết, một giá trị một tên tuổi, người tôi kính trọng và khâm phục. Vĩnh biệt anh, xin thắp cho anh nén nhang và cúi đầu đưa tiễn anh từ xa. Anh Tâm!

Vũ Trọng Quang

—–

(*) Thơ Tự Do 10 Tác Giả: Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Quốc Chánh, Trần Hữu Dũng, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Đạt, Vũ Trọng Quang, Nguyễn Quyến, Nguyễn Thị Minh Thái, Nguyễn Quang Thiều, Khiêm Lê Trung. (NXB Trẻ, 1998)

 

[disqus_shortcode_codeable]

Ông Lý Khung

Bà Maria Vũ Thị Nhị

Ông Bùi Kế

Bà Hoàng Xuân Hào

Cụ Bà Nguyễn Thị Ngân

Ông Trần Văn Tư

Gioan Kim Nguyễn Trí Dũng

Cụ Ông Võ Hữu Chánh

Cụ Ông Nguyễn Hữu Thời

Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa

Cụ Ông Phạm Văn Khỏe

Bà Nguyễn Thị Thúy Ban