Trần Doãn Nho
Phạm Chi Lan, qua “Những Giấc Mơ Trong Bệnh Viện,” đã ghi lại một kinh nghiệm đặc biệt mà đa phần trong chúng ta (may mắn thay!) đều không phải trải qua. Đó là những giờ phút đợi chờ người ta banh, xẻ, cắt… da thịt mình trong phòng điều trị tích cực (ICU) với một niềm hưng phấn bất thường của một người đang mấp mé đứng ở bờ vực tử sinh. Cái hiện thực vật chất giúp mỗi một cá thể tồn tại trong thế giới, thân xác, đôi khi, chỉ cần một trầy suớc nhỏ cũng đã làm ta sợ hãi, thì trong giờ phút quan trọng này, đâm ra…vô nghĩa. Sau khi ký tên lên “consent form” chấp nhận mọi rủi ro của cuộc giải phẫu, tác giả (cũng là một nữ bệnh nhân mắc bệnh nan y) tự quả quyết với chính mình:

“Làm gì tôi cũng được, làm sao cho tôi thở được thì làm, đâm đục chích chỗ nào cũng được, tôi không sợ đau đâu, tôi chỉ sợ mình ngất đi và tôi sẽ đi luôn vì không thể thở được, tôi sẽ phải giã từ đời sống tuyệt đẹp này. Phổi và tim tôi ngập đầy nước…”
Sau những giờ phút chìm trong mê man, cô tỉnh dậy với cảm giác bỡ ngỡ, ngạc nhiên khi biết mình còn sống: “Ôi lạy Chúa, tôi vẫn còn hiện diện trên đời đây ư?”
Cơn nguy biến đã qua, nhưng cô đối diện với những khó khăn mới: “Tôi đưa tay lần đếm: ngực và bụng tôi quấn băng kín mít, có ba ống test tubes từ trong ngực và bụng chảy ra ba cái fluid collectors ở cạnh giường, foley catheter, tay mặt thì có máy đo áp suất cứ 30 phút lại tự động bóp chặt, máy bóp hai chân cột vào cuối giường để khỏi đọng máu cũng vậy, chốc chốc lại co thắt rồi xì hơi… Còn cái gì đầy trên ngực thế này? Một lô dây nhợ dính vào một cái máy nhỏ đặt trên ngực, nối vào monitor đo nhịp tim, oxygen,… thỉnh thoảng nó kêu tít tít, y tá lại chạy vào bấm bấm cái nút gì đó rồi nhìn phớt qua tôi.”
Cơ thể cô chẳng khác gì “cái xác còn thở,” một hiện thực bất toàn. Ấy thế mà, khi “nhìn thấy khoảng nắng trong lành ngoài kia” cái xác ấy “bỗng thấy yêu đời sống vô cùng.” Những gì bình thường bên ngoài diễn ra đều đặn và nhàm chán đó, với cô giờ phút này, hiện ra với một dáng vẻ hoàn toàn mới. Từ chuyện lái xe đi chợ, đi nhà thờ, đi thăm bạn bè cho đến những phút tản bộ giữa đám lá vàng tơi tả hay ngồi trong quán cà phê lộ thiên nhìn thiên hạ đi qua đi lại… đều tuyệt vời. Cô kêu lên: “Đời sống ơi, sao mi vừa gần gũi vừa xa cách thế này…”
Được đưa ra khỏi phòng chăm sóc đặc biệt, cô nhẹ lòng. Và nhất là, bên cạnh cô trong giờ phút sinh tử, luôn luôn có tình yêu sưởi ấm: sự hiện diện của chồng cô. Không chỉ hiện diện để chăm sóc mà còn để chia sẻ. Vốn là một nhà thơ, anh “lần giở đọc những bài thơ tình cho hải đăng, những bài thơ lúc nào cũng làm tim tôi như nghẹn lại vì cảm động, thơ đầy ắp kỷ niệm… (…). Giọng anh ấm và êm, anh đọc sang sảng như nhập vào lời thơ. Anh lại đọc tiếp, đọc mê mải một bài thơ đắc ý khác mà anh đã vắt tim ra, từng lời từng chữ cô đọng…”
Cô sung sướng kêu lên: “Đời sống ơi, hạnh phúc ơi, tất cả như đang đi qua trước mặt tôi, tôi cố đưa tay bắt lấy, níu lấy…”
Nỗi mừng vì níu lấy được đời sống, không xóa nhòa đi được cái nghịch lý của hiện thực: dù đã thoát khỏi cơn nguy biến, nhưng tất cả chỉ là tạm thời. Mang căn bệnh nan y, cô biết rất rõ là sớm muộn gì, cô cũng phải ra đi khỏi đời sống, mãi mãi. Những hề gì. Cô không bi quan, ngược lại là khác. Nhờ đức tin tôn giáo: cô đã sẵn sàng trở về với Chúa. “Chúa ơi đem con về nơi ấy đi, nơi ấy chắc hẳn vô cùng bình yên và hạnh phúc.” Dù “Chúa đóng cánh cửa chính” không cho cô cơ hội “đi hết con đường cuộc đời cho đến ngày thành một bà cụ già tóc bạc,” nhưng trong 47 năm ngắn ngủi, cô “đã may mắn gặp người chồng yêu thương tôi chân thành, đó là ân tứ Chúa đã ban cho tôi. Nếu không có chồng tôi trong thời gian đau bệnh vừa rồi, ai chia sẻ đau đớn, khó khăn với tôi? Tạ ơn Chúa, đó chính là cánh cửa nhỏ Chúa mở ra cho tôi đó.” Vì thế, “Tôi chấp nhận thực tại, chấp nhận những ngày giờ còn lại vô cùng quí đẹp mà tôi đang có. Tôi thấy lòng bình an…”
Chính trong tâm trạng bình an đó, những giấc mơ đến, tiếp tục đến với cô. Nhiều lần. Cô sống trong, sống bằng những giấc mơ, giấc mơ nào cũng đẹp, cũng lạ.
Cô mơ thấy mình cùng chồng đi du lịch đến một khu chợ vùng biên giới Mỹ-Mễ, nơi cô tìm thấy một khung cảnh bình yên trong nắng chiều ấm áp.

Cô mơ thấy một “buổi họp mặt gia đình có đông những người thân, khung cảnh ấy hoàn toàn xa lạ tôi chưa từng biết tới. Chung quanh tôi là các anh chị, các cháu rất đông tôi không nhớ rõ mặt từng người, chúng đang xúm xít bàn tán, trò chuyện, cười nói với nhau.” Cô hết sức ngạc nhiên khi bỗng gặp lại chính mình: “Ô kìa, ai kia sao trông giống tôi, vừa thân quen vừa lạ lẫm,” “mái tóc đó, lởm chởm cắt tém, vừa thô vừa thưa thớt,” “mặc cái áo dài thêu hoa, đi đứng đàng hoàng, không chống nạng khó khăn như ngoài thực tế.” Cô cho rằng đó “hình ảnh diễn biến của ‘tòa phán xét’ sau khi người ta qua đời, người ta có thể nhìn lại ký ức mình xem mình đã làm những điều lành dữ nào trong đời.”
Cô còn mơ nhiều giấc mơ khác, toàn là “sweet dreams” (giấc mơ đẹp), những món quà quý giá mà cô có được, bù lại cho cảm giác bứt rứt, tù túng, đau đớn, khó chịu, mệt mỏi và những cơn đau hành hạ.
Nhưng mơ không bằng thực. Giấc mơ lớn nhất là được “về nhà nằm ở cái sofa trong phòng khách, bình an và ấm áp” bên cạnh người chồng thân yêu của mình. Chỉ thế thôi!
***
Đọc xong “Những Giấc Mơ Trong Bệnh Viện,” tôi băn khoăn không biết nên xếp bản văn này vào thể loại gì. Tùy bút, truyện ngắn, tản văn, hồi ức hay tự truyện? Có lẽ là tất cả, thể loại này chen trong thể loại kia. Loại nào thì loại, điều đáng nói nhất là nó đã được biến thành chữ, đi vào thế giới văn chương, điều mà chỉ có những người đam mê với chữ nghĩa như Phạm Chi Lan mới làm được. Và quan trọng nhất, đây là tác phẩm cuối cùng mà Phạm Chi Lan để lại cho đời, vì chỉ một thời gian ngắn sau đó, cô phải vĩnh viễn ra đi. Cô chấp nhận cái mà số phận đã giành cho mình, không một chút bi quan. Có lẽ vì thế, “Những Giấc Mơ Trong Bệnh Viện,” thay vì nhiễm không khí u ám của cuộc sinh ly tử biệt, lại mang những nét đằm thắm, tươi trong như những gì cô viết khi còn lành lặn, yêu đời và yêu người.
Đọc xong tác phẩm này, không mấy ai có thể nghĩ rằng, tác giả là một bệnh nhân chờ đợi cái chết đang tiến đến dần dần.
Điều này khiến tôi liên tưởng đến một khái niệm mới trong lãnh vực sinh học mà tôi tình cờ đọc được cùng lúc với “Những Giấc Mơ Trong Bệnh Viện.” Nó liên quan đến quá trình chuyển biến của một cơ thể từ “sinh” đến “tử,” vừa được các nhà khoa học khám phá trong thời gian gần đây: “trạng thái thứ ba” (third state). Theo cách hiểu truyền thống, cái chết đánh dấu một sự kiện không thể đảo ngược: chấm dứt chức năng hoạt động của một sinh thể (organism). Tim ngừng đập, não ngừng hoạt động… và thân xác bắt đầu quá trình suy hoại. Thực ra, các nghiên cứu về sinh học cho thấy, khi một sinh thể “chết” đi không có nghĩa là các thành phần cấu tạo nên nó cũng, ngay lập tức, “chết” theo. Cơ thể như một toàn bộ, tuy đã chết, nhưng một số bộ phận khác, vẫn có thể còn làm việc (do đó, có trường hợp người ta tự nguyện hiến tim, thận). Thuật ngữ “trạng thái thứ ba” quy cho một quá trình, qua đó, những tế bào chết tự tái-tổ-chức vào trong những cấu trúc đa-tế-bào hoàn toàn mới và phát triển những khả năng mà chúng không bao giờ có trước đó. Các nhà khoa học gọi đó là những “anthrobots” (robot sinh học). Chúng tự chuyển dịch trong cái cơ cấu đã chết và thực hiện những chức năng vượt ra ngoài vai trò sinh học nguyên thủy của chúng. Quả là một khám phá lý thú.
Phải chăng Phạm Chi Lan đã sống và viết trong “trạng thái thứ ba” với tâm thế của một tâm hồn trong sáng và một nghị lực mạnh mẽ, vượt qua sự suy đồi của một thể xác đang trên tiến trình tự hủy!
(Xin được nhắc lại: đây chỉ là một liên tưởng tình cờ của người viết về mặt khái niệm, để kết luận bài viết ngắn này, hoàn toàn không phải là một so sánh cụ thể).
Phạm Chi Lan sinh năm 1962 tại Sài Gòn, cùng gia đình đến định cư ở Mỹ sau biến cố Tháng Tư, 1975, lúc mới 13 tuổi, cư ngụ tại Dallas, tiểu bang Texas. Dù bị tật nguyền vì bạo bịnh từ nhỏ, Phạm Chi Lan vượt lên trên số phận, tiếp tục theo học và trở thành một chuyên viên điện toán, làm việc liên tục trong hơn 20 năm. Cô là sáng lập viên kiêm chủ bút của “Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng” (7/1995-4/2001), tạp chí văn chương đầu tiên của người Việt trên mạng lưới toàn cầu. Ngoài ra, Phạm Chi Lan còn cộng tác với báo Trẻ dưới bút hiệu Phan Trầm Thư. Phạm Chi Lan qua đời ngày 21 Tháng Chín, năm 2009, sau hơn hai năm chống chọi lại căn bịnh nan y. Tác phẩm đã xuất bản: “Miền Lặng” (tập truyện), “Niệm Khúc Hải Đăng” (tập thơ). Ngoài ra, cô còn có truyện in chung trong trong hai tuyển tập Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng.

















































































