Chu Dũng Sĩ/Người Việt
LITTLE SAIGON, California (NV) – Sau khi tình nguyện vào Phi Đoàn 219 King Bee, phi công Chung Tử Bửu bắt đầu tham chiến rất nhiều trận đánh vô cùng nguy hiểm tại Thừa Thiên và sang biên giới Lào.

Ngày 8 Tháng Năm, 1968, trong một chuyến đổ quân Biệt Kích từ căn cứ Non Nước sang Điện Bàn, Đà Nẵng.
Sau khi đáp, trong vòng chưa đầy ba giây thì các Biệt Kích quân đã nhảy ra hết. Trung Úy An vừa cất cánh lên khỏi mặt đất khoảng chừng chưa tới 10 thước vượt trên một bụi rậm thì một tràng đạn từ trong bụi cây bắn trúng ngay cái bougie trong máy nên máy bay tắt máy liền. Dù bị tắt máy, Trung Uý An vẫn bình tĩnh cho trực thăng đáp xuống chạy trên miếng ruộng phía Tây của làng.
Với tốc độ của máy bay thì khi chạm đất đã cách làng này cả cây số rồi. Chiếc H-34 chạy như con trâu điên trên ruộng nước, hai bánh xe trước ủi văng mấy bờ mẫu. Chạy khoảng hơn 50 thước mới dừng lại. Tất cả đều nhảy ra khỏi máy bay, chạy lõm bõm dưới ruộng nước. Ngay lúc đó, chiếc thứ hai, do Trung Úy Nguyễn Tấn Trọng đáp xuống cạnh bên để rước anh em về liền. Đó là lần đầu tiên ông Bửu nếm cảnh bị bắn rớt trong chiến trận.
Phi Công Chung Tử Bửu tâm tình: “Sau này nghĩ lại, tôi thấy đúng là có sự bảo vệ kỳ diệu. Nếu Việt Cộng chỉ bắn chệch một chút xíu thôi thì hoặc là trúng Trung Úy An hoặc trúng tôi. Một trong hai người thế nào cũng bị trúng đạn bởi vì lúc đó trực thăng đang ở quá gần Việt Cộng. Mũi súng chỉ cách máy bay khoảng chừng 10 thước, may mà không ai bị thương hết. Sau đó, tôi được ân thưởng ‘Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Bạc.’ Còn ông phi đoàn trưởng ngồi ở nhà vẫn được thưởng ‘Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Vàng.’ Trong quân đội có nhiều chuyện rất trái chiều mà cấp dưới không nói gì được. Sau vụ đó, tôi tiếp tục đi bay bình thường.”
Phi Đoàn 219 có nhiều nhân viên phi hành nhất trong các phi đoàn trực thăng của Không Quân VNCH. Bình thường các phi đoàn khác có khoảng 60 nhân viên phi hành; kể cả hoa tiêu chính, hoa tiêu phó và cơ phi. Riêng Phi Đoàn 219 thì tổng số nhân viên phi hành là 100 người mà vẫn phải thường xuyên tuyển mộ bổ sung thêm người vào. Vì hễ các phi vụ bị bắn rớt, thì có người bị thương hay tử trận. Mỗi năm, Phi Đoàn 219 mất khoảng 20 chiếc trực thăng. Nhưng không phải 20 phi hành đoàn đều chết. Nếu bị tử trận ba phi hành đoàn trong một năm là nhiều lắm rồi. Còn các phi đoàn khác mất chừng ba, bốn chiếc trực thăng mà thôi.
Ông Bửu chia sẻ: “Cuộc đời bay bổng của tôi ngày nào không bị bắn thì không thấy hào hứng. Khi tôi đã trở thành trưởng phi cơ, mỗi lần vào vùng súng đã nổ, đạn bay rồi thì tôi hăng máu bay cách nào cho cơ phi có thể bắn trả. Có lẽ mùi thuốc súng làm cho tinh thần trong người lính hăng say muốn diệt địch. Vì vậy, mỗi lần bị bắn và lúc bình an trở về thì tôi thấy rất hào hứng. Điều đó trở thành quen. Mỗi chuyến bay của tôi mặc dù bị bắn nhiều nhưng đều bình an.”
Chuyến bay bị bắn te tua tại thung lũng A Sau
“Vào cuối năm 1968, chúng tôi thả một toán Biệt Kích xuống thung lũng A Sau thuộc phía Tây tỉnh Thừa Thiên, sát biên giới Lào. Sau đó, chúng tôi phải bay tới A Lưới để rước một toán Biệt Kích khác đang bị Việt Cộng vây hãm. Thung lũng A Lưới nằm về phía Bắc của A Sau. Toán Biệt Kích Lôi Hổ đó bị lộ và bị địch quân rượt đuổi, nên họ rút lên sườn núi. Ở dưới là Việt Cộng đang tìm cách tấn công lên. Hôm ấy tôi đi chiếc thứ hai với Trung Uý Huỳnh Văn Phố. Phi đội trưởng là Trung Úy Phan Văn Thanh. Anh Thanh xuống trước chưa kịp tới bãi đáp đã bị nã một tràng gãy cái pedal của hoa tiêu phó là Trung Úy Nguyễn Hiền Nhơn. Tôi nghe trong vô tuyến anh Thanh la bài hãi, ‘Ground fire! Ground fire!’ rồi anh vọt lên trời liền. Anh không dám xuống trở lại, cho nên chúng tôi phải quay về Phú Bài.”

Phi Công Chung Tử Bửu nói: “Sau khi Phòng Hành Quân Biệt Kích họp bàn với các phi đội tham gia cuộc rước toán, họ quyết định phải trở vào để rước cho bằng được toán đó. Toán có sáu người cả Mỹ lẫn Việt. Lúc ấy vì chiếc số 1 bị gãy cái pedal, thành ra không thể đi, mà anh Thanh thì nhát gan nên lấy cớ máy bay hư để ở nhà. Phi đội phó là Trung Uý Phố phải lên làm KingBee Lead. Danh hiệu của chúng tôi khi bay với Mỹ là KingBee, nhưng tên của Phi đoàn là Long Mã.”
Long Mã tức là Ngựa Rồng. Nhưng người Mỹ đặt tên Phi Đoàn 219 là King Bee. Đối với các toán Biệt Kích Mỹ đang chờ được bốc, khi họ nghe báo là có King Bee vào rước, thì họ yên tâm vì tin chắc sẽ được sống. Nhưng khi nghe sẽ có các phi đội của Mỹ vào rước thì họ hơi thất vọng. Có nghĩa là năm phần sống, năm phần chết. Tại vì họ biết chắc một điều, khi King Bee tới thì bằng mọi giá King Bee phải xuống cho bằng được và rước cho bằng được, không chịu thua bỏ cuộc.
Ông Bửu kể tiếp, “Khi trở lại rước toán Biệt Kích đang bị Việt Cộng đuổi theo, Trung Úy Phố và tôi tới nơi thì đương nhiên đạn ở dưới bắn lên. Nhưng vì toán Biệt Kích ấy cố thủ trong một hố bom. Cho nên từ trên cao Trung Úy Phố làm ‘lá vàng rơi’ nhào xuống đậu ngay miệng hố bom, đầu quay vào trong sườn núi, đuôi chìa ra ngoài. Lúc đó, tôi nghe tiếng đạn bắn trúng đằng sau đuôi lổn cổn, lảng cảng giống như cái thùng thiếc bị đập. Bọn Việt Cộng cách chúng tôi khoảng chừng hơn 200 thước thôi, và tụi nó đông lắm nên châu súng vào bắn. Vì vậy, cái đuôi của chiếc máy bay bị lủng lung tung beng Khi tất cả đều lên máy bay rồi, anh Phố cất cánh vọt lên qua đỉnh núi, lao xuống thung lũng để lấy airspeed rồi kéo vọt thẳng lên mây.”
Trở lại rước toán biệt kích
Sau khi Phòng Hành Quân Biệt Kích họp bàn với các phi đội tham gia cuộc rước toán, họ quyết định phải trở vào để rước cho bằng được toán đó. Toán có sáu người cả Mỹ lẫn Việt. Lúc ấy vì chiếc số 1 bị gãy cái pedal, thành ra không thể đi, mà anh Thanh thì nhát gan nên lấy cớ máy bay hư để ở nhà. Phi đội phó là Trung Uý Phố phải lên làm KingBee Lead. Danh hiệu của Phi Đoàn 219 khi bay với Mỹ là King Bee nhưng tên của Phi Đoàn là Long Mã.”
Đối với các toán Biệt Kích Mỹ đang chờ được bốc, khi họ nghe báo là có King Bee vào rước, thì họ yên tâm vì tin chắc sẽ được sống. Nhưng khi nghe sẽ có các phi đội của Mỹ vào rước thì họ hơi thất vọng. Có nghĩa là năm phần sống, năm phần chết. Tại vì họ biết chắc một điều, khi King Bee tới thì bằng mọi giá King Bee phải xuống cho bằng được và rước cho bằng được, không chịu thua bỏ cuộc.
Khi trở lại rước toán Biệt Kích đang bị Việt Cộng đuổi theo, ông Bửu kể lại: “Kỳ nầy Trung Úy Phố và tôi bay vào tới nơi thì đương nhiên đạn ở dưới bắn lên. Nhưng vì toán Biệt Kích ấy cố thủ trong một hố bom. Cho nên từ trên cao Trung Úy Phố làm ‘lá vàng rơi’ nhào xuống đậu ngay miệng hố bom, đầu quay vào trong sườn núi, đuôi chìa ra ngoài. Lúc đó, tôi nghe tiếng đạn bắn trúng phía đằng sau đuôi lổn cổn, lảng vảng. Đạn bắn vào đuôi giống như cái thùng thiếc bị đập.”
Ông kể thêm: “Việt Cộng cách chúng tôi khoảng chừng hơn 200 thước thôi, và tụi nó đông lắm nên châu súng vào bắn. Vì vậy, cái đuôi của chiếc máy bay bị lủng lung tung beng. Khi tất cả đều lên máy bay rồi, anh Phố cất cánh vọt lên qua đỉnh núi, cái máy bay ấy thiệt là tốt và mạnh. Khi vượt qua đỉnh thì lao xuống thung lũng để lấy airspeed, rồi kéo vọt thẳng lên mây, lúc đó bay về hoàn thành một phi vụ thót tim.”
Đó là chuyến bay đầy gian nan, nhưng lúc ấy Thiếu Úy Bửu vẫn còn là copilot. Qua năm 1969 có thể nói rằng, chiến trường bên Lào vẫn tiếp tục rất nóng. Ông Bửu và các chiến sĩ của Phi Đoàn 219 ngày nào cũng phải bay qua Lào để thả toán và rước toán. Lúc đó Phi Đoàn 219 chịu trách nhiệm từ khu phi quân sự phía Bắc dọc theo biên giới Lào cho tới vùng Pleiku, nhưng đồn Đức Cơ lại nằm ngay biên giới phía tây của Pleiku. Cho nên phi đoàn phải bao luôn vùng hoạt động ở đó. Sau nầy, qua năm 1970 thì Phi Đoàn 219 còn phải hoạt động xuống tới Ban Mê Thuột và cả vùng Lộc Ninh.

Theo ông Bửu, “Trong những năm 1968 và 1969, chúng tôi thường xuyên trực bay ở Dakto và Dakpek. Vùng Ba Biên Giới (Tam Biên) Việt-Miên-Lào thuộc về Kontum. Nhưng Dakto là nơi thường xuyên nhất. Vài buổi trưa rất nóng, chúng tôi cởi áo ngoài chỉ mặc áo thun cho đỡ nóng. Mỗi khi Việt Cộng pháo kích vô phi trường Dakto, chúng tôi leo lên trực thăng nổ máy và cất cánh liền. Khi đáp, đám lính Mỹ chỉ trỏ cười vì bọn King Bee không cần mặc áo đầy đủ trước khi bay. Trong khi đó, đám UH-1 của Mỹ nổ máy chưa xong thì tụi tôi đã trở về đáp xuống rồi.”
Còn tất cả những tiền đồn biên giới như Ban Don, Tiêu Atar, Đức Lập thuộc vùng Buôn Mê Thuột.
Rước toán biệt kích tại Nam Lào
Có một chuyến bay thả toán, khi xuống tới bãi đáp là một sườn núi đầy cỏ lau cao ngập đầu, ông Bửu cảm thương các chiến sĩ Biệt Kích phải di chuyển giữa rừng cỏ lau dày đặc trên sườn núi. Ông Bửu không hiểu tại sao người chọn bãi đáp lại chọn một chỗ như thế. Vì nếu toán bị lộ và bị địch truy đuổi thì rất khó thoát ra khỏi vùng nguy hiểm. Địa thế của vùng Nam Lào thuộc cao nguyên Boloven rất hiểm trở. Những chuyến thả toán vào vùng nầy đều rất gay go và nguy hiểm, đồng thời thường bị địch bắn, vì đây là khu vực rất gần khu an toàn của địch đóng quân. Vì vậy, những phi vụ này thường được mô tả là “nhức tim.”
Ông Bửu rất chú ý mỗi khi đến núi rừng vùng Khâm Đức. Đây là nơi bị bắn tắt máy thì khó sống sót. Vì rừng già bao la bạt ngàn, không chỗ trống nào để hạ cánh ép buộc. Hơn nữa, nắng quái buổi chiều chiếu lên vách đá con sông Khâm Đức tạo nên một cảnh kỳ bí không thể diễn tả được.
Nói về nàng Diệp, cô gái đang ở tại xứ Huế, Phi Công Chung Tử Bửu nhớ lại: “Sau khi chuyển qua Phi Đoàn 219, tôi thường ghé thăm Diệp mỗi lần nàng về thăm nhà. Vì trong dịp Tết 1968, tôi lập một công trạng lớn đối với gia đình nầy. Đó là tôi ra Huế rước ông ngoại của Diệp về Đà Nẵng trong lúc mọi người trong gia tộc đều bối rối không kiếm ra phương tiện gì để đón ông cụ. Khi tôi tới nơi ông cụ tạm trú, cụ gặp lại tôi thì mừng rỡ ra mặt.
Gia tộc bên ngoại của Diệp bàn với nhau, chắc phải gả con Diệp cho thằng nầy, mặc dù nó bên Đạo Tin Lành, không phải Phật Giáo. Mẹ Diệp mời tôi ăn tối rồi ướm lời bảo tôi thưa với má tôi ra dạm hỏi. Nếu không chính thức dạm hỏi thì không được tới gặp Diệp nữa. Thật ra, sau nầy tôi mới biết rằng gia đình sợ mấy ông có cánh sẽ dông mất bất cứ lúc nào.” [dt]















































































