Trần Doãn Nho
Vào ngày Lễ Giáng Sinh, Tháng Mười Hai, 2021, sau nhiều thập niên chờ đợi, viễn vọng kính mạnh nhất thế giới “James Webb Space Telescope” (JWST), được phóng lên không gian, đưa vào trong một quỹ đạo cách trái đất 1.5 triệu km, hơn gấp bốn lần khoảng cách tới Mặt Trăng. JWST được đặt theo tên vị lãnh đạo đời thứ nhì của NASA, James Webb, là sản phẩm của sự hợp tác quốc tế giữa các cơ quan không gian NASA (Mỹ), “European Space Agency” (ESA/Châu Âu) và “Canadian Space Agency” (CSA/Canada), cùng với sự tham gia của hơn 300 trường đại học, tổ chức và công ty trên 29 tiểu bang Hoa Kỳ, và 14 quốc gia khác. Là một viễn vọng kính hết sức đắt tiền (gần $10 tỷ), JWST hoạt động song song với viễn vọng kính Hubble (Hubble Space Telescope/HST) phóng lên không gian từ năm 1990, trong việc khám phá những bí ẩn của vũ trụ. Khác với Hubbe chỉ bay quanh quỹ đạo Trái Đất, JWST quay quanh quỹ đạo Mặt Trời, lại bao gồm nhiều tính năng kỹ thuật hết sức tiên tiến, có mục đích thu thập những hình ảnh xa xôi hơn và rõ ràng hơn, cung cấp các dữ liệu chính xác về sự hình thành các thiên hà trong vũ trụ sơ khai, sự ra đời của các ngôi sao và các hành tinh, bao gồm cả nguồn gốc của sự sống.

Từ khi chính thức đi vào hoạt động vào năm 2022, viễn vọng kính này đã liên tục phát hiện nhiều thiên hà (galaxy) cổ xưa nằm ở những nơi xa nhất trong vũ trụ. Chẳng hạn thiên hà MoM-z14, xuất hiện rất sớm, chỉ vào khoảng 280 triệu năm sau vụ nổ Big Bang, một lý thuyết về khai sinh vũ trụ. Mặc dù nhỏ bé hơn 400 lần so với Dải Ngân Hà (Milky Way), thiên hà mới được khám phá này lại phát ra ánh sáng vô cùng mạnh, được quan sát vào thời điểm nó đang trải qua giai đoạn bùng nổ đưa đến sự ra đời của những ngôi sao mới. Nhận xét về vai trò của nó, Bill Nelson, nguyên giám đốc cơ quan NASA, phát biểu: “Kính Webb sẽ nhìn ngược về hơn 13 tỷ năm ánh sáng, thời điểm ngay sau Big Bang, với một sức mạnh đủ để cho nhân loại thấy điểm không gian xa nhất mà chúng ta từng nhìn thấy.”
Nhờ hai viễn vọng kính đó, loài người đã có một cái nhìn càng ngày càng rõ hơn về cõi không gian vô tận bao quanh chúng ta. Xin ghi lại vài dữ liệu do các nhà thiên văn học cung cấp về cái mà họ gọi là “vũ trụ có thể quan sát được” (observable universe):
Tuổi của trái đất: khoảng 4.54 tỷ năm (với sai số 50 triệu năm).
Tuổi của vũ trụ: khoảng 13.7 tỷ năm (với sai số 200 triệu năm).
Một thiên hà (như Dải Ngân Hà) có khoảng 100 tỷ ngôi sao (tức là mặt trời).
Toàn vũ trụ có khoảng 2 ngàn tỷ (2×1012) thiên hà.
Nhân hai con số lại với nhau, ta sẽ có 200 sextillion (1 sextillion = 1 billion trillions = 1021), nghĩa là vũ trụ hiện có 200,000,000,000,000,000,000,000 (số 2 và 23 con số zéro) ngôi sao!
Người ta gọi chúng là những “con số thiên văn” (astronomical numbers), một loại số “không tưởng,” hoàn toàn nằm ngoài khái niệm của trí óc con người. Để dễ hình dung, các nhà thiên văn tạm cho ta một hình ảnh cụ thể: nhân loại trên trái đất là một “tổ kiến” nhỏ trôi lềnh bềnh giữa “đại dương địa cầu” (global ocean).
Trong cái tổ kiến nhỏ đó, có những sinh linh vô cùng bé bỏng. Như bạn, như tôi. Ban ngày, chẳng mấy ai quan tâm đến một cái gì nằm trên vùng cao xa vời vợi kia. Nhưng khi đêm đến, nhất là những đêm tối trời, nhìn vào khoảng không gian thăm thẳm với hàng ngàn đốm sáng nhấp nháy ở cõi xa xăm sâu thẳm, ta nhìn thấy nó: VŨ TRỤ. Ngưỡng mộ, khiếp phục, sợ hãi…mà không hiểu gì cả. Dù có đưa ra những “con số thiên văn” cụ thể nói trên, tất cả vẫn chỉ là những điều gần như vô nghĩa.
May mắn thay, con người tìm ra ý nghĩa ở một chỗ khác.
Tôi nhớ đến một câu chuyện diễn ra cách đây gần 160 năm, vào cuối thập niên 1860. Đó là câu chuyện của một chàng chăn cừu nghèo khổ 20 tuổi, sống ở xứ Provence, miền Nam nước Pháp. Chàng được ông bà chủ giao đi chăn cừu ở trên núi Luberon, nơi quanh năm suốt tháng, chỉ có một mình chàng với đàn cừu. Cứ mỗi nửa tháng, chủ lại sai người đưa thức ăn đến, đều đặn như thế. Một lần nọ, đúng hạn, nhưng hôm đó trời mưa dông, nên người mang thức ăn mãi đến chiều mới đến. Thất vọng vì phải chờ đợi, nhưng chàng lại quá sung sướng vì kẻ mang thức ăn không phải là người giúp việc, mà là Stéphanette, cô con gái xinh đẹp của ông bà chủ, người mà chàng thầm yêu trộm nhớ bấy lâu nay. Trời mưa, lại là lần đầu tiên đi xa, nên nàng lạc đường, đến muộn. Với dải ruy băng có hoa, chiếc váy sáng bóng có viền đăng ten, nàng trông giống như đang ham vui trong một buổi khiêu vũ nào đó hơn là bị lạc đường trong bụi rậm.
Giao xong thức ăn, nàng ra về. Chàng chăn cừu nhìn theo, tiếc rẻ. Nhưng rồi khi trời sắp tối, nàng bỗng quay trở lại, áo quần ướt sũng, thân hình run rẩy, sợ hãi. Hóa ra, khi xuống đến chân đồi, nàng không thể qua sông được vì nước dâng cao do trận mưa dông giữa ngày. Trời đã tối, nàng không thể nào quay về trang trại một mình, còn chàng, chàng không thể bỏ lại đàn gia súc để theo hộ tống. Vô kế khả thi, nàng đành phải ở lại. Đêm xuống, giữ phận tôi tớ, chàng lo sắp xếp chỗ ngủ cho nàng, rồi đi ra ngoài, ngồi canh, lòng xôn xao. Không thể nào ngủ được vì lũ súc vật gây ra đủ thứ tiếng động ồn ào trong đêm, Stéphanette thức dậy, tỏ ý thích ngồi bên đống lửa. Sợ nàng chưa đủ ấm, chàng khoác thêm tấm da dê lên vai nàng, nhóm lửa to hơn, và hai người ngồi cạnh bên nhau mà chẳng nói lên lời nào.

Câu chuyện viết tiếp:
“Nếu bạn đã từng ngủ qua đêm dưới bầu trời đầy sao, bạn sẽ biết rằng vào lúc con người say ngủ, thì cả một thế giới bí ẩn thức dậy trong sự cô quạnh và lặng lẽ. Khi ấy, suối chảy nghe rõ hơn, mặt hồ thắp lên những ánh lửa nhỏ. Tất cả các linh hồn của núi non tự do đi lại; và trong không khí có tiếng xào xạc, những âm thanh rất nhỏ tựa như ta đang nghe thấy các cành cây đang lớn lên, cỏ dại nẩy mầm. Ban ngày là cuộc sống của muôn loài; nhưng ban đêm là cuộc sống của sự vật. Nếu không quen, điều đó có thể khiến người ta sợ hãi…Cô tiểu thư của chúng tôi cũng thế, run rẩy nép vào tôi mỗi khi có tiếng động. Có lúc, một tiếng kêu dài, buồn bã, vang lên từ hồ nước phía dưới, vọng đến chỗ chúng tôi theo từng đợt. Đúng lúc đó, một ngôi sao băng xẹt ngang qua trên đầu chúng tôi theo cùng một hướng với tiếng kêu, y như lời than vãn mà chúng tôi vừa nghe mang theo với nó một luồng ánh sáng.”
Lần đầu tiên được ngủ ngoài trời, được nhìn ngắm bầu trời sao bao la, lại được một chàng trai tận tinh giải thích về những chòm sao, những ngôi sao và các sự tích liên hệ, Stéphanette vô cùng vui thích. “Nàng vẫn ngước nhìn bầu trời, đầu tựa vào tay, quấn trong tấm da cừu, trông chẳng khác nào một mục đồng bé nhỏ của thiên đường.” Chàng chỉ cho nàng nhìn Dải Ngân Hà (La Voie Lactée), chòm sao Đại Hùng (La Grande Ourse), chòm sao Ba Vua (Trois Rois), chòm sao Kim Ngưu (La Pléiades)…Chàng không nói những “con số thiên văn” (vì chàng chẳng hề biết), mà chỉ kể những câu chuyện đời thường của mỗi chòm sao, dựa trên trí tưởng tượng và niềm mơ ước của con người. Cuối cùng, chàng nói: “Nhưng ngôi sao đẹp nhất, thưa cô chủ, chính là ngôi sao của chúng tôi, sao mục đồng (l’Étoile du Berger), ngôi sao dẫn đường cho chúng tôi vào lúc bình minh khi lùa đàn cừu ra đồng, và khi hoàng hôn buông xuống, dẫn chúng tôi trở về.”
Và rồi, một sự kiện nho nhỏ chợt xảy ra:
“Khi tôi tìm cách giải thích cho nàng về những cuộc hôn nhân của các vì sao, tôi chợt cảm nhận có thứ gì đó mềm mại và mát lạnh tựa nhẹ lên vai mình. Thì ra đó là mái đầu của nàng, nặng trĩu vì cơn buồn ngủ, đang tựa vào tôi với cái chạm nhẹ êm ái của những dải ruy băng, của dây đăng ten và của làn tóc gợn sóng. Nàng cứ ngủ như thế, không nhúc nhích, cho đến khi ánh sao nhạt dần, tan biến trong ánh sáng bình minh đang dâng lên. Còn tôi, tôi lặng lẽ ngắm nhìn nàng ngủ, cảm thấy trong lòng có chút xao động, nhưng vẫn được che chở bởi màn đêm trong trẻo, chưa từng gợi lên trong tôi điều gì ngoài những ý nghĩ đẹp đẽ. Xung quanh chúng tôi, những vì sao vẫn tiếp tục hành trình thầm lặng của chúng, ngoan ngoãn như một đàn cừu lớn. Và đôi lúc, tôi tưởng tượng rằng một trong những ngôi sao ấy – nhỏ nhất, sáng nhất – lạc đường, đã hạ xuống vai tôi để ngủ yên…”
Câu chuyện chấm dứt ở đó. Một câu chuyện hoàn toàn không thật nhưng vô cùng đẹp. Đó là sáng tác văn chương, “Les Étoiles” (Những Ngôi Sao), một truyện ngắn hết sức nổi tiếng, trích từ trong tập truyện “Lettres de Mon Moulin” (Những Lá Thư Từ Cối Xay Gió Của Tôi) của nhà văn Pháp Alphonse Daudet (1840-1897), xuất bản vào năm 1869, mà bọn học trò chúng tôi được thầy dạy Pháp Văn cho đọc thời còn học trung học. Đứa nào cũng mê mẩn vì câu chuyện tình trong sáng, mà cũng mê mẩn vì giọng văn lãng đãng, nhẹ nhàng, lôi cuốn của tác giả.
Vào thời của Daudet (nửa sau thế kỷ 19) và ngay cả vào thời của tôi hồi đó (giữa thế kỷ 20), tuy ngành thiên văn chưa đạt đến tầm mức như hiện nay, nhưng chẳng mấy ai tin vào những câu chuyện thần thoại hoang đường về các vì sao. Ngược lại, dù đã được cung cấp những “con số thiên văn” cụ thể nhờ các viễn vọng kính tối tân hiện nay, chẳng mấy ai trong chúng ta lại nhìn bầu trời sao hàng đêm qua lăng kính trần trụi của một cái vũ trụ vô cùng vĩ đại, nhưng vô hồn. Chẳng thế mà, mỗi đêm, nhìn lên bầu trời sao, đọc những dòng thơ sau đây:
Ta thương sao Vega màu hồng
Ta thương màu sao trong mắt trong
Một thoáng sao băng vào hư ảo
Một thoáng đời thành nỗi nhớ nhung
(Trần Quang Long)
bỗng thấy lòng trở nên lãng đãng, mộng mơ.
Sao Vega thuộc chòm sao Lyra, cách trái đất chừng…25 năm ánh sáng. Nhưng qua lời thơ, sao nó gần với loài người đến thế!
Những con số thiên văn, dù có chính xác đến đâu hóa ra, cũng chỉ là…những con số vô hồn!

















































































