Lâm Hoài Thạch/Người Việt
LITTLE SAIGON, California (NV) – Nhiệm vụ chính của bộ chỉ huy Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ tại Việt Nam (Headquarters, U.S. Army Special Forces) là phối hợp với Bộ Tư Lệnh MACV, nhằm cố vấn, tổ chức, huấn luyện và trang bị cho Civilian Irregular Defense Group (CIDG – Dân Sự Chiến Đấu). Các quân nhân của đơn vị này, phần nhiều là các chiến binh thuộc sắc tộc thiểu số vùng Tây Nguyên miền Nam Việt Nam.

Vào năm 1962, cấu trúc của Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) Hoa Kỳ tại Việt Nam đang nằm trong giai đoạn chuyển giao và thử nghiệm hành quân. Hệ thống các Toán A, B, C của Liên đoàn 5 LLĐB Hoa Kỳ (5th Special Forces Group) phối hợp chặt chẽ với đơn vị LLĐB/VNCH để khai triển chiến lược bất đối xứng chống du kích.
Ngô Văn Quy kể: “Khi xong chương trình thụ huấn tại căn cứ Bear Cat, tôi được đưa về các trung tâm huấn luyện Đồng Đế và Dục Mỹ, để thụ huấn thêm về các môn sình lầy, nhảy dù, nhảy trực thăng và cận chiến. Tổng cộng hơn sáu tháng. Đến thời điểm này, tôi thực thụ trở thành một chiến sĩ Biệt Kích của Liên Đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ, và bắt đầu được đưa về những nơi đóng quân của Biệt Kích dọc theo biên giới Việt-Miên-Lào.”
Cấu Trúc Hệ Thống Toán A, B, C năm 1962
Năm 1962, Liên Đoàn 5 LLĐB Hoa Kỳ (Mũ Xanh) mới chỉ đưa các toán Biệt Kích sang Việt Nam theo dạng biệt phái tạm, chứ chưa chuyển toàn bộ Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn sang Nha Trang. Việc chuyển giao chính thức diễn ra vào cuối năm 1964. Trước đó, để điều hành sự hoạt động của liên đoàn, họ thành lập Bộ Chỉ Huy LLĐB Hoa Kỳ tại Việt Nam vào Tháng Chín, 1962.
Hệ thống chỉ huy được phân cấp theo mô hình từ lớn đến nhỏ như sau:
Toán C (C-Detachment – Trung Đội Hành Quân) cao nhất của các toán. Cấp bậc chỉ huy của toán này, thường do một đại tá hoặc trung tá cấp lữ đoàn, hay trung đoàn phụ trách. Chức năng của họ là cấp bộ chỉ huy cao nhất tại bản địa, tương đương cấp Quân Khu hoặc Vùng Chiến Thuật. Toán C chịu trách nhiệm lập kế hoạch chiến lược, quản lý hậu cần sâu rộng, kết nối thông tin giữa Sài Gòn và các vùng chiến thuật, đồng thời phân bổ tài chính từ CIA và quân đội Mỹ cho các dự án.
Toán B (B-Detachment – Đại Đội Hành Quân). Toán này, cấp bậc chỉ huy, thường do một thiếu tá hoặc đại úy dày dạn kinh nghiệm chỉ huy. Vị chỉ huy đơn vị này với chức năng hoạt động như một bộ chỉ huy thu nhỏ ở cấp tỉnh hoặc tiểu khu. Toán B quản lý, tiếp tế hậu cần và yểm trợ hỏa lực, cũng như cứu viện cho nhiều Toán A trong khu vực trách nhiệm của mình.
Toán A (A-Detachment / Toán Alpha – ODA) nhỏ nhất trong các toán. Cấp bậc chỉ huy của toán thường do một đại úy, toán trưởng và trung úy, toán phó. Quân số chuẩn của toán là 12 nhân viên. Bao gồm các chuyên viên tinh nhuệ về vũ khí, chất nổ, công binh, y tế, truyền tin, và tình báo.

Trang bị vũ khí đặc biệt và kỹ thuật chiến đấu của Biệt Kích Quân
Ngô Văn Quy cho biết: “Chức năng quan trọng của toán này là, thành lập mũi nhọn trực tiếp bám địa bàn, cắm chốt tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới hẻo lánh. Nhiệm vụ cốt lõi của họ là xây dựng các trại biên phòng và huấn luyện lực lượng bán quân sự địa phương. Tính đến giữa Tháng Mười, 1962 thì bộ chỉ huy lâm thời này quản lý 24 toán Biệt Kích thuộc các toán A, B và C. Tất cả các toán này được điều động luân phiên, theo tiêu chuẩn tạm thời cứ sáu tháng cho một chuyến công tác, được đặt tại các Liên Đoàn 1, Liên Đoàn 5 và Liên Đoàn 7, Hoa Kỳ. Các liên đoàn này đặt bộ chỉ huy tiền phương trên khắp bốn vùng chiến thuật tại miền Nam VNCH.”
Chia sẻ với nhật báo Người Việt những góc khuất rất thực tế về đời lính biệt kích, đặc biệt là kỹ thuật về vũ khí và kinh nghiệm mưu sinh thoát hiểm khốc liệt trong rừng sâu, ông Quy kể chi tiết những tình tiết quý giá, đó là về vũ khí và trang bị hành quân.
Biệt Kích Quân là lực lượng đặc chủng phối thuộc cùng Liên Đoàn 5 LLĐB Hoa Kỳ, nên họ được trang bị những vũ khí đặc biệt, tối tân với tính cách cơ động và được bảo mật. Như súng ngắn Ru-lô (Revolver) đặc biệt. Ông Quy nói: “Lính Biệt Kích đi rừng rất chuộng những khẩu súng ngắn nhỏ gọn như súng Ru-lô. Loại súng này có ưu điểm tuyệt đối là không bao giờ bị kẹt đạn, do cát bụi hay bùn lầy, giúp người lính có thể phản ứng ngay lập tức trong các tình huống chạm trán bất ngờ phải cận chiến. Ngoài ra, khi hành quân thì chúng tôi trang phục không phù hiệu, không màu cờ gì cả, để bảo mật tung tích khi hoạt động sâu trong lòng địch hoặc sát biên giới. Toàn bộ quân phục ngụy trang rằn ri, ba lô và giày của chúng tôi hoàn toàn không có nhãn mác, không thêu cấp bậc hay bảng tên. Nếu không may hy sinh hoặc bị bắt, phía đơn vị có thể chối bỏ hành tung để bảo vệ bí mật chiến dịch.”
Cũng theo ông Quy, thắt lưng hành quân của người lính Biệt Kích được thiết kế để mang theo lượng đạn và lựu đạn nhiều gấp đôi lính bộ binh thông thường, nhằm bảo đảm hỏa lực liên tục để mở đường máu rút quân, khi bị bao vây.
Nói đến sự mưu sinh thoát hiểm trong rừng sâu, đối với ông Quy, kẻ thù trong rừng không chỉ có đối phương mà còn là sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Những kinh nghiệm mưu sinh mà ông chia sẻ chính là những bài học sinh tử, trong đó có kỹ thuật di chuyển không dấu vết. Do đó, khi thám sát trong rừng, quy tắc nghiêm ngặt là không được bẻ cành cây, không để lại rác lương khô và phải giẫm lên đá hoặc rễ cây lớn để tránh để lại dấu giày bốt. Tại vì địch quân có những toán “luộc dấu” chuyên tìm dấu vết bụi cỏ bị dẫm, cành cây gãy… rất tinh vi, chỉ một sơ suất nhỏ là toàn sẽ bị lộ và sẽ bị địch săn đuổi.
Ngô Văn Quy kể: “Về vấn đề kỷ luật, tuyệt đối tất cả phải giữ yên lặng, nhất là khi đi rừng vào ban đêm, việc giữ im lặng là yếu tố sống còn. Do đó, khi hành quân đêm, toán Biệt Kích giao tiếp hoàn toàn bằng ám hiệu tay. Ngay cả khi bị côn trùng độc cắn, người lính cũng phải cắn răng chịu đựng, không được phát ra tiếng động. Còn thêm vấn đề quan trọng nữa, đó là sự sinh tồn bằng nguồn nước tự nhiên. Vì khí hậu miền Nam Việt Nam vô cùng oi bức, lượng nước mang theo trong bi-đông thường cạn kiệt sau vài ngày hành quân dã chiến. Qua đó, khi cạn nước uống mang theo, chúng tôi phải tìm nguồn nước từ các dòng suối sâu, hoặc trong trường hợp nguy cấp phải chặt các loại dây leo thân gỗ (dây gắm, cây mây) để hứng từng giọt nước uống mưu sinh.”

Ngoài ra đó, nghệ thuật ẩn mình chờ trực thăng (Medevac/Extraction) rất là quan trọng khi toán Biệt Kích đang bị địch quân bao vây. Đến khi gọi được trực thăng đến bốc quân, tình thế hiểm nghèo nhất là làm sao vừa giữ khoảng cách an toàn với địch quân, vừa phải ném lựu đạn khói định vị bãi đáp chính xác, để cho phi công Mỹ đáp xuống. Ông thuật lại giây phút nghẹt thở khi phải bò sát mặt đất, chịu đựng sức gió từ cánh quạt trực thăng thổi rạp cây cối xung quanh, mà các Biệt Kích quân bắt buộc phải bò đến để leo lên trực thăng, giữa làn đạn bắn đuổi.
Cách phối hợp giữa LLĐB Hoa Kỳ Và LLĐB VNCH
Năm 1962 đánh dấu cột mốc quan trọng khi Mỹ chuyển giao chương trình Phòng Vệ Dân Sự và Xung Kích Dân Sự Vụ (CIDG) từ Lực Lượng CIA sang cho Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ và Lực Lượng Đặc Biệt VNCH đồng quản lý. Quá trình này gọi là Operation Switchback.
Cách thức phối hợp giữa hai bên dựa trên nguyên tắc Chỉ Huy Song Hành (Dual Command).
Central Intelligence Agency (CIA) là Cơ Quan Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ. Đây là cơ quan tình báo thường hoạt động ở những nước ngoài Hoa Kỳ. Đây cũng là cơ quan dân sự của chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ, chuyên thu thập và phân tích thông tin an ninh quốc gia.
Ngoài ra, tùy thuộc vào từng lĩnh vực, CIA còn có thể là viết tắt của một số cụm từ khác ít phổ biến hơn. Thí dụ như trong Kiểm Toán – Tài chính, được gọi là: Certified Internal Auditor (CIA – Chứng Chỉ Kiểm Toán Viên Nội bộ). Trong việc bảo mật và công nghệ thông tin và mô hình là Confidentiality, Integrity, Availability (CIA – Bảo Mật, Toàn Vẹn và Sẵn Sàng). Đó là ba yếu tố cốt lõi mật của an ninh thông tin Hoa Kỳ.
Vài năm sau đó, thực hiện chương trình rút quân của Hoa Kỳ, LLĐB giải tán, và bàn giao toàn bộ căn cứ Polei Kleng lại cho lực lượng Biệt Động Quân VNCH vào ngày 31 Tháng Tám, 1970. Sau đó, nơi này trở thành bản doanh của Tiểu Đoàn 62 Biệt Động Quân Biên Phòng.
Sau đó nữa là trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Trại Polei Kleng (Lệ Khánh) đã đi vào quân sử với trận phòng thủ vô cùng khốc liệt vào Tháng Năm, 1972. Sau khi các căn cứ Đắk Tô, Tân Cảnh và Charlie thất thủ, Polei Kleng trở thành tiền đồn cuối cùng ngăn chặn hướng tiến quân của xe tăng và bộ binh của CSBV tiến vào Kon Tum.

Lữ Đoàn 3 Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam
Trở lại lúc Lữ Đoàn 3/Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ vừa đến Việt Nam để tham chiến. Họ đã cho Công Binh của sư đoàn này dọn sạch khu rừng Cỏ Mi, Thủ Đức để thiết lập căn cứ của Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ. Lúc đó chiến trường tại miền Nam Việt Nam đã bắt đầu sôi động mạnh.
1964 chiến trường càng thêm sôi động hơn, các đơn vị chủ lực của Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân rầm rộ vào Việt Nam. Ngoài việc thành lập các nhóm Biệt Kích của Lực Lượng Đặc Biệt, còn có các đơn vị chủ lực như Thủy Quân Lục Chiến đồn trú tại Khe Sanh, các đơn vị khác như 101, Nhảy Dù và 173 tại Pleiku. Qua đó, Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ cùng với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn và ba Lữ Đoàn tỉnh nhuệ được trải dài từ Dĩ An dọc suốt quốc lộ 13 đến Lai khê, Dầu Tiếng, Phước Vĩnh, Bình Long. [dt]











































































































































