Lâm Hoài Thạch/Người Việt
LITTLE SAIGON, California (NV) – Ông Ngô Văn Quy kể: “Vì chiến trường trở nên sôi động và các đơn vị Hoa Kỳ đến trú đóng tại Việt Nam, nên MACV (Military Asistance Command in Vietnam) phối hợp với bộ trưởng tham mưu quyết định tuyển dụng những hạ sĩ quan đồng hóa thông dịch viên với cấp bậc trung sĩ được đưa về Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung để thụ huấn căn bản quân sự. Sau đó được tuyển về Bộ Tổng Tham Mưu theo học trường Sinh Ngữ Quân Đội, trước khi được bổ sung cho các đơn vị quân đội Hoa Kỳ trên bốn vùng chiến thuật. Đó cũng là dịp tôi gặp Đặng Quốc Toàn (chồng của ca sĩ Hương Lan) đi trình diện Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ vào năm 1965. Rồi chúng tôi trở thành tâm giao từ đó cho đến nay.”

Mô hình đồng chỉ huy tại doanh trại (Counterpart System)
Tại mỗi Trại Biên Phòng CIDG luôn có hai toán đặc nhiệm đồn trú song hành: Toán A Hoa Kỳ và Toán Đặc Nhiệm tương đương của Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) VNCH. Về mặt pháp lý và hành chính, sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt VNCH là trại trưởng (Commanding Officer), giữ quyền chỉ huy tối cao đối với binh sĩ người sắc tộc thiểu số, gồm Thượng, Nùng và Khmer đang hoạt động trong trại.
Sĩ quan LLĐB Hoa Kỳ trong vai trò cố vấn trưởng (Senior Advisor). Tuy nhiên, vì phía Hoa Kỳ nắm giữ ngân sách, vũ khí và phương tiện vận tải Không Quân và y tế, nên mọi quyết định hành quân đều phải có sự đồng thuận của cả hai bên.
Về phương pháp tuyển dụng và dân vận: LLĐB/VNCH chịu trách nhiệm chính trong việc thu phục nhân tâm, làm việc trực tiếp với các trưởng bản người Thượng, bao gồm các sắc dân Jarai, Rhade, Bahnar… để tuyển mộ thanh niên vào Lực Lượng CIDG.
Về phần huấn luyện kỹ thuật chiến đấu (chiến thuật), các nhân viên Toán A Hoa Kỳ phối hợp với các hạ sĩ quan LLĐB/VNCH để mở lớp dạy sử dụng vũ khí, kỹ năng truyền tin, sơ cứu vết thương chiến trường và chiến thuật phục kích hay phản phục kích cho lực lượng địa phương.
Về hành quân trinh sát và viễn thám, các sĩ quan hai bên cùng lên kế hoạch tuần tra quanh căn cứ, thiết lập các vọng gác từ xa nhằm ngăn chặn đường dây xâm nhập từ đường mòn Hồ Chí Minh qua biên giới Lào – Cambodia vào Nam Việt Nam.
Qua đó, sự phối hợp năm 1962 là mô hình “Hoa Kỳ yểm trợ kỹ thuật, tài chính – Việt Nam làm chủ quản trị, nhân sự.” Dù đôi lúc gặp bất đồng ngôn ngữ và văn hóa, hệ thống các Toán A-B-C phối hợp với LLĐB/VNCH trong giai đoạn này đã rất thành công khi xây dựng được mạng lưới hàng chục trại biên phòng vững chắc, vũ trang cho hàng vạn người dân sơn cước để tự vệ trước sức ép của đối phương.
Vào vùng địch đóng quân
Sau khi đã trở thành một chiến sĩ biệt kích, ông Ngô Văn Quy đã được đưa về những trại Biệt Kích Biên Phòng. Vừa trình diện đơn vị thì thời gian không lâu, Biệt Kích Ngô Văn Quy đã có những cuộc hành quân tại biên giới Việt – Cambodia, trong các vùng rừng rậm cũng như các mật khu của Việt Cộng dọc theo biên giới thuộc Vùng III Chiến Thuật.

Ông Quy kể: “Thật ra toán chúng tôi khoảng từ 3 đến 6 người được lệnh công tác vào những mật khu của Việt Cộng, dọc theo biên giới Việt-Miên. Những chuyến công tác này phần nhiều toán chúng tôi chỉ âm thầm vào vùng địch đang chiếm đóng, để dọ thám tình hình của địch đang đóng quân như thế nào, và báo cáo về cho ban chỉ huy của trại Biệt Kích biên giới, chớ chúng tôi không nổ sung, vì quân số của địch quá nhiều hơn toán Biệt Kích của chúng tôi. Nhưng có những chuyến công tác khi bị địch phát hiện, bắt buộc chúng tôi phải nổ súng, và tìm cách thoát thân khỏi lằn đạn và sự rượt đuổi của Việt Cộng. Lúc đó, chỉ có phương pháp duy nhất là gọi trực thăng của các phi đoàn Không Quân VNCH có nhiệm vụ hỗ trợ cho các toán Biệt Kích đang hành quân vào lòng địch, đến để yểm trợ và bốc chúng tôi rời khỏi vùng đang chạm địch.”
Có lúc toán Biệt Kích biên phòng cũng có các chuyến hành quân dài ngày trong rừng sâu, những cuộc chạm trán bất ngờ đụng độ trực diện với các đơn vị chủ lực đối phương trong bóng đêm. Nhờ đêm tối trời, nên họ đã dễ tìm cách xoay xở để rút lui an toàn.
Cuối năm 1964, toàn bộ Bộ chỉ huy và các đơn vị trực thuộc của Liên Đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ mới chính thức di chuyển căn cứ đến Nha Trang để trực tiếp nắm quyền kiểm soát toàn diện mọi hoạt động của các chiến sĩ Biệt Kích Quân trên toàn chiến trường Việt Nam.
Được đưa về căn cứ Polei Kleng (Lệ Khánh) ở Kon Tum
Trước khi Liên Đoàn 5 LLĐB di chuyển về Nha Trang. Biệt Kích Ngô Văn Quy được đưa về căn cứ của LLĐB tại trại Polei Kleng ở Kon-Tum.
Lịch sử của trại này là từ Tháng Ba, 1966, căn cứ quân sự Biệt Kích Polei Kleng được Liên Đoàn 5 LLĐB Hoa Kỳ (5th Special Forces Group) thiết lập. Doanh trại nằm trên ngọn đồi 530, cách trung tâm thị xã Kon Tum khoảng 22km về hướng Tây Bắc. Ngày nay, vị trí của trại thuộc địa bàn thị trấn Sa Thầy, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Trại có tên gọi bản địa là Polei Kleng, đặt theo tên một làng của người dân tộc Thượng ở gần đó. Tên tiếng Việt là Trại Lệ Khánh. Theo mật danh của quân đội Hoa Kỳ còn gọi là Trại A-241. Trại này còn có một số tên gọi khác như Trại Lê Vanh, Căn Cứ Hỏa Lực Bass hoặc Bãi Đáp Bass.
Được xây dựng từ năm 1966, Polei Kleng là một trong những tiền đồn biên phòng kiểu mẫu phòng thủ vòng ngoài của Hoa Kỳ ở Tây Nguyên. Doanh trại chính được thiết kế theo hình tam giác bao quanh bởi các lớp hàng rào kẽm gai và bãi mìn chống xâm nhập dày đặc. Bên trong căn cứ được thiết kế hệ thống giao thông hào chìm và nổi rất phức tạp được kết nối trực tiếp với 13 lô cốt phòng thủ kiên cố hướng ra ngoài đồi. Bên trong vành đai bảo vệ còn có một sân bay dã chiến (sân bay Kleng) để nhận tiếp tế lương thực và đạn dược, do Không Quân tiếp tế, và một căn cứ hỏa lực của pháo binh.

Nhiệm vụ chính của trại Lệ Khanh (Polei Kleng) dưới thời LLĐB Hoa Kỳ chiếm đóng là bảo vệ thị xã Kon Tum từ xa về phía Tây Bắc. Song song đó, trại cũng đóng vai trò là “mắt thần” án ngữ, theo dõi và ngăn chặn các sư đoàn chủ lực của Cộng Sản Bắc Việt xâm nhập miền Nam dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh qua ngả Sa Thầy để tiến vào Kon Tum.
Đơn vị đồn trú chính tại đây là Lực Lượng Dân sự Chiến đấu (CIDG) do các toán LLĐB Mỹ và VNCH chỉ huy, tổ chức các cuộc tuần tra, thám sát tầm ngắn và phục kích bảo vệ biên giới.
Tuyển mộ người Thượng vào toán Biệt Kích Dân Sự Chiến Đấu
Tại trại Lệ Khánh, ngoài vấn đề hành quân công tác, ông Quy còn có nhiệm vụ lên vùng sơn cước để tuyển mộ một số người dân tộc Thượng. Sau đó ông huấn luyện họ trở thành Biệt Kích Quân Dân Sự Chiến Đấu (Civilian Irregular Defense Group – CIDG), và thành lập những toán Biệt Kích chuyên xâm nhập vào hậu cần của Việt Cộng đang đóng quân tại vùng biên giới. Tại đây ông Quy từng đến những buông Thượng để tuyển mộ Dân Sự Chiến Đấu.
Ông kể lại: “Khi đến các buôn Thượng, tôi giải thích cho họ hiểu rằng, khi họ đi lính thì họ sẽ có tiền lương để nuôi vợ con, đồng thời cũng để gìn giữ an ninh cho buôn làng của họ cũng như ngăn chặn được Việt Cộng về chiếm làng. Vì thế, có rất nhiều người Thượng gia nhập vào toán Dân Sự Chiến Đấu. Sau khoảng sáu tháng huấn luyện, họ được đưa về trại Polei Kleng, và bắt đầu nhận công tác. Điểm đặc biệt tại trại Polei Kleng là những người lính Biệt Kích thuộc dân tộc Thượng được phép mang theo vợ con, gia đình vào sinh sống ngay bên trong vành đai căn cứ. Điều này giúp tạo động lực chiến đấu bảo vệ gia đình và gắn kết chặt chẽ với các cố vấn Mũ Xanh Hoa Kỳ.”
Những toán Dân Sự Chiến Đấu này, với sự chỉ huy của trưởng toán Ngô Văn Huy, với ba nhiệm vụ khác nhau: Thứ nhất, 11 thanh niên từ 18 cho đến 50 tuổi ở các buông sẽ thường xuyên hành quân lẽ tẻ để giữ an ninh cho buôn làng của họ. Nhiệm vụ kế tiếp là theo toán nhảy từ 9 đến 11 người vào các yếu điểm dọc theo biên giới để thu thập tin tức. Nhiệm vụ thứ ba là xâm nhập vào vùng đất địch đang chiếm đóng, để phá hoại và bắt cóc nếu cần, trong những công tác từ 24 tiếng đến 42 tiếng hoặc 72 tiếng.”
Lúc đang gầy dựng những toán Dân Sự Chiến Đấu tại căn cứ Polei Kleng, thì thì doanh trại này bị cộng sản tấn công vào khoảng Tháng Tám, 1962. Nhưng sự tấn công này cộng sản bị thất bại và để lại chiều xác chết của địch quân, bên phía Hòa Kỳ và VNCH chỉ có vài chiến sĩ bị thương nhẹ.
Ngô Văn Quy bị thương tại căn cứ Polei Kleng
Ông Quy kể: “Sau đó, chúng tôi vẫn tiếp tục hành quân vào những vùng biên giới, và tiếp tục đào luyện thêm các Dân Sự Chiến Đấu, đơn vị này rất được sự yểm trợ tối đa của quân đội Hoa Kỳ. Kế tiếp, quân đội VNCH đảo chánh chính phủ Ngô Đình Diệm vào Tháng Mười Một, 1963. Lúc đó cộng quân lại tìm cách tấn công căn cứ Polei Kleng lần nữa, và lúc này, tôi bị thương ở bờ vai bên trái, vào cuối năm 1963.”

Sau gần hai tháng điều trị tại bệnh viện địa phương tại Kon Tum, nhưng vết thương không lành. Cũng may lúc đó thì Bệnh Viện 2 Dã Chiến Hoa Kỳ được thành lập rất lớn tại căn cứ Long Bình, Biên Hòa, và chỉ huy trưởng của LLĐB Hoa Kỳ tại đây là Thiếu Tá Mc Cloud ra lệnh đưa chiến sĩ Ngô Văn Quy về bệnh viện Long Bình để chữa trị, và bệnh viện này cũng gần Trại Bear Cat, nơi ông Quy được huấn luyện trở thành chiến sĩ Biệt Kích. Sau sáu tháng được điều trị tại Bệnh Viện 2 Dã Chiến Long Bình, ông Quy được hoàn toàn bình phục. [dt]

















































































































































