Thơ Trần Đình Sơn Cước: nỗi niềm và trăn trở

Trần Doãn Nho

Nói đến Trần Đình Sơn Cước, tôi nghĩ ngay đến bài thơ “Ngày Tục Giảng Ở Huế” của anh [1]. Mời đọc vài trích đoạn:

Nhà thơ Trần Đình Sơn Cước. (Hình: Internet)

ngày tục giảng khởi đầu bằng buổi thượng kỳ
(…) năm phút mặc niệm những người đã chết
học trò ứa nước mắt không dám nhớ
nơi chỗ đứng này
hai mươi ngày đầu năm
hàng trăm người gục chết
xác ngổn ngang như củi
đàn bà trẻ con ông già bà lão
lính quốc gia cộng sản
lính mỹ đại hàn
chồng sấp chồng ngửa lên nhau
nơi chỗ đứng này
hai mươi ngày đầu năm
công chức mất máu
công chức mất đầu
hai hầm chôn sống gần năm chục
người bỏ vợ bỏ con
người xa cha xa mẹ
người bị giết vì lầm
học trò cúi mặt không dám nhìn
thầy giáo cho nhanh vào lớp
(…) lớp học còn lại năm bảy đứa
phờ phạc như chim bị bão
như kẻ mất hồn
thầy hỏi những đứa kia đâu hết
học trò ngồi chết cứng nhìn nhau
có những trò đã chết
xác còn  chôn trên các vỉa hè
bên mũi cầu trong công viên trong rãnh nước
có những trò đi biệt
chưa biết được ngày về
bỏ sách vở bạn bè thành phố
gởi cuộc đời vui gian nan
có những trò nghỉ học
hoặc đã đi lính cũng nên
bởi cửa nhà cháy rụi
cha mẹ không đủ tiền
nuôi con…
thầy giáo như đã khóc
học trò ngồi nín lặng
lớp học vội vàng tan…

Bài thơ làm từ 58 năm trước (1968), đầy những chi tiết và hình ảnh hiện thực như một bức tranh màu tối, “di chứng” lịch sử sinh động của một thời loạn lạc. Chẳng khác gì mấy với hình ảnh “xác người nằm trôi sông phơi trên ruộng đồng trên nóc nhà thành phố trên những đường quanh co…” trong ca khúc “Hát Trên Những Xác Người” của Trịnh Công Sơn, sáng tác cùng thời. “Tục Giảng” – trường mở cửa lại – nghe lạ tai, nhưng  mang dấu ấn của một biến cố kinh hoàng: trận chiến Mậu Thân (1968) ở Huế.  Trường học của nhà thơ vẫn là trường cũ, còn trường tôi theo học, Đại Học Văn Khoa, bị hư hại nặng, phải tạm thời dời lên “Phủ Viễn Đệ” (gần cầu Bến Ngự) và tục giảng ở đó. Tuy chỉ thu gọn trong khung cảnh của một trường học sau cả tháng trời chìm trong khói lửa hận thù, bài thơ gói gọn một Huế căng thẳng, đau thương và tan tác. Lời thơ hoàn toàn không màu mè, hoa mỹ, không bóng bẩy ẩn dụ, ngược lại, tràn trề hiện thực và nặng nề cảm xúc. Là một người cùng thời với anh (dù có lớn tuổi hơn đôi chút) và sống trọn 26 ngày giữa cuộc chiến trong vùng Thành Nội, tôi đọc bài thơ như đọc lại nỗi niềm của chính mình.

Nhiều bài thơ khác sau “Ngày Tục Giảng Ở Huế” cũng mang tính cách hiện thực và tràn đầy khắc khoải như thế. Tâm cảm đó của Trần Đình Sơn Cước (tạm rút gọn: Sơn Cước) kéo dài đến tận khi đã nhiều tuổi và khi đã ở ngoài đất nước qua những sáng tác mới, xuất hiện rải rác ở một số tạp chí văn chương mạng, trong cũng như ngoài nước. Một trong vài đặc điểm dễ nhận ra trong thơ Sơn Cước: nhiều trong số các sáng tác của anh đều gắn liền với bối cảnh của một sự kiện hay một câu chuyện về một nhân vật nào đó – người mẹ, người thầy, người anh hay người bạn – qua những tình huống và cung bậc khác nhau. Cũng có thể nói, chính các câu chuyện và sự kiện đó vừa là nỗi xúc động vừa là nguồn cảm hứng thi ca, lại vừa chứa đựng những ý nghĩa sâu xa hơn nằm đàng sau những con chữ. Đọc thơ anh, vì thế, luôn gợi cho tôi một nỗi đồng cảm sâu sắc. Chả là, cả hai chúng tôi đều đã sống, đã chứng kiến và đã tham dự (cách này hay cách khác) vào một Huế nhiễu nhương ngày đó.

Khá nhiều những bài thơ của Sơn Cước là câu chuyện về “các anh.”

Khi tôi lớn lên
Các anh như huyền thoại
(…)
Dáng tài hoa trong chiều nắng lạ
Môi đắng cà phê, vàng tay thuốc lá (TĐSC/Kỷ Niệm)

Hai chữ “các anh” ở đây được nhà thơ sử dụng để chỉ thế hệ những người sinh ra vào những năm cuối thập niên 1930 và đầu thập niên 1940. Trưởng thành trong giai đoạn 1954-1964, dù đất nước bị chia cắt, nhưng được sống êm ả và tự do trong hòa bình một thời gian ngắn, thế hệ này có cơ hội phát triển tài năng về nhiều mặt, nhất là văn học nghệ thuật. Nhiều người trong số đó đã trở thành những khuôn mặt điển hình, góp một phần đáng kể vào nền văn học nghệ thuật miền Nam 1954-1975. Đinh Cường hay Ngô Kha hay Trịnh Công Sơn chẳng hạn. Với Sơn Cước (thuộc thế hệ trẻ hơn), “các anh” này có thể là thầy, có thể là bạn vong niên, mà cũng có thể là bạn đồng lứa dù có đôi chút cách biệt về tuổi tác. Hòa trộn trong hình ảnh lãng đãng thời thượng của “môi đắng cà phê, vàng tay thuốc lá” là những ưu tư khắc khoải không tránh khỏi về thời cuộc trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt và bị chi phối bởi ý thức hệ thời đại. Tất cả góp phần tạo nên một Huế tràn trề nỗi niềm đất nước, nhưng chia rẽ sâu sắc. Điều này là yếu tố thúc đẩy mỗi người, cách này hay cách khác, trực tiếp góp phần tạo ra những biến động vô tiền khoáng hậu tại một thành phố vốn dĩ trầm lặng này: biểu tình, tuyệt thực, hội thảo, tự thiêu, bàn thờ xuống đường, đốt thư viện Mỹ, bãi khóa, bãi thị, đình công, thảm sát Mậu Thân…Chẳng thế mà:

khắc khoải tồn sinh, trầm tư hiện thực
bài thơ tình và tuyên ngôn hành động (TĐSC/Kỷ Niệm)

Hai câu thơ này vẽ nên một Huế điển hình của thập niên 1960: vừa mê triết lý hiện sinh của Jean-Paul Sartre và đọc truyện Francois Sagan lại vừa thảo luận về chủ nghĩa cộng sản và viết tuyên ngôn tranh đấu chống chính quyền Việt Nam Cộng Hoà! Một nghịch lý Huế!

Nghịch lý này được tìm thấy trong nhiều bài thơ của Sơn Cước, tạo nên một nét khá riêng trong thơ anh.

thế hệ chúng tôi
thế hệ chiến tranh
những đứa con tài hoa của huế
những niềm tin trong sáng
và mù quáng (!) (TĐSC/Lụi Tàn)

Tập thơ “Vẫn sống cùng ngụ ngôn.” (Hình: TDN)

Những “niềm tin trong sáng và mù quáng,” nghe đến lạ! Nhưng đúng thế. Để nắm bắt được cái nhìn bất ngờ này, không thể không nhắc đến trường hợp Trần Vàng Sao – lớn hơn Sơn Cước cả chục tuổi, người mà tác giả ghi hai chữ “nhớ đến” ở đầu bài thơ có tựa đề “Lụi Tàn” này – là một trong những hình tượng khá tiêu biểu. Trần Vàng Sao, tức Nguyễn Đính, tác giả của bài thơ nổi tiếng “Bài Thơ Của Một Người Yêu Nước Mình” và tập hồi ký “Tôi Bị Bắt,” [2]  chứa đựng hai giọng điệu trái ngược nhau. Là một trong những thanh niên bỏ học hăng hái lên rừng theo cộng sản từ lúc đang còn là học sinh, nhà thơ này được ân huệ mang ra hậu phương lớn miền Bắc để đào tạo, nhưng sớm trở thành người bất đồng chính kiến, bị bắt và bị nhà nước phân biệt đối xử từ trước 1975 cho đến những năm cuối đời ở Huế.

Một bài khác, “Lời Nguyện,” với lời đề tặng “Cho một trái tim lành, anh L.K.C.”

“Chúa đã khước từ” ta thời khát vọng
Anh khước từ anh sau “ngày giải phóng”
Anh khước từ anh, cao sang bục giảng
Sa xuống chợ trời gột rửa lương tâm (TĐSC/Lời nguyện)

L.K.C tức Lê Khắc Cầm. Là nhà trí thức-nghệ sĩ thuộc một gia đình danh gia vọng tộc Huế, người đã dịch tác phẩm “Chúa Đã Khước Từ” (The Martyred của tác giả Richard E. Kim), Cầm “giác ngộ” theo cộng sản, tích cực hoạt động trong giới trí thức Huế. Sau Tháng Tư, 1975, Cầm được cử giữ một chức vụ khá lớn trong một phân khoa thuộc Đại Học Huế. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, anh từ bỏ tất cả, bỏ Huế, bỏ nghề và bỏ cả chính bản thân mình, vào Sài Gòn, ra chợ trời buôn bán kiếm sống qua ngày. “Anh khước từ anh” để “gột rửa lương tâm.” Khó kiếm một cách diễn tả nào mạnh mẽ hơn trong trường hợp phản tỉnh đặc biệt này.

“Chén đắng” là câu chuyện của “một Lê Khắc Cầm” khác:

Chuyện đã cũ
Có phải chúng ta
“ngây thơ
Hay sách vở dối lừa”
Có phải trái tim
Bốc lửa
Hay cái đầu chúng ta
Chọn lựa? (TĐSơn Cước/Chén Đắng)

Tạp chí Văn số 110 (7/1968), tài liệu của Nguyễn Trường Trung Huy, bài “Ngày Tục Giảng Ở Huế” nằm ở trang 79. (Hình: TDN cung cấp)

Bài thơ đề tặng một người (Nguyễn Thanh Văn), nhưng nội dung chính đề cập đến một người khác. Hai câu thơ ngắn: “ngây thơ/hay sách vở dối lừa,” một trong vài ý nòng cốt của bài thơ (không khác mấy với nghịch lý “niềm tin trong sáng và mù quáng” nói trên), theo chú thích của tác giả, được trích từ bài thơ “Tình Yêu Của Tôi” của “Nguyện,” [3] một nhà thơ ít người biết đến. “Nguyện” là bút danh của Hồ Tịnh Tình (1944-2021), một sinh viên “chọn con đường băng qua khu rừng già đầy gai và cỏ sắc” (lên chiến khu), tích cực hoạt động trong tổ chức sinh viên học sinh cộng sản Huế trước 1975. Sau 1975, cũng như Trần Vàng Sao và Lê Khắc Cầm, trong nỗi thất vọng vì đã uống phải “chén đắng” của “cách mạng,” Tình làm thơ để giải tỏa nỗi u uất của mình. Khác với “Tình Yêu Của Tôi” có tính ẩn dụ, “Bài Ca Đường Phố” – bằng một thứ ngôn ngữ cụ thể, không quanh co rào đón – là một bức tranh hiện thực tàn nhẫn của xã hội miền Nam sau ngày “giải phóng”. Mời đọc một vài trích đoạn bài thơ này của tác giả “Nguyện”:

Thế giới của tôi đã bị cắt thành nhiều mảnh
Bị săm soi
Bị đánh số
Bị đặt tên
Bị cho vào hộ khẩu
(…)
Thằng bé chẳng cần biết người đứng cạnh nó đã từng tham dự chiến tranh
Đã bắn
Đã giết
Đã qua tù tội
Không có nghĩa  gì cả, thật tình như thế
Vì những căn nhà vẫn mọc lên trên mặt đất
Dù bên dưới là anh hùng liệt sĩ
Là đĩ đượi ma cô
Lịch sử ngoằn ngoèo có bao nhiêu phần trăm sự thật
Cũng chẳng đi về đâu
(…)
Người ta nói sự ngu dốt hoàn chỉnh với trò lừa đảo đã thành một giá trị (Nguyện/Bài Ca Đường Phố)

Quả là chén đắng: ngu dốt hoàn chỉnh + lừa đảo = giá trị!

Một số nhân vật khác cũng đã đi vào thơ anh, mỗi người mang một ý nghĩa khác nhau: Nguyễn Hữu Doãn (Tưởng Niệm), Bùi Chánh Thời (Hóa Thân), Trần Bá Di, nguyên thiếu tướng trong quân lực VNCH (Tâm Hương Cho Người Thua Cuộc), Đoàn Thanh Liêm, người đưa ra bản Tuyên Bố 5 Điểm vào Tháng Hai, 1990 tại Sài Gòn, kêu gọi nhà nước cộng sản hãy hòa hợp hòa giải, tôn trọng nhân quyền, tôn trọng tự do tôn giáo (Yên Nghỉ), Phan Thị Kim Phúc, “em bé napalm” trong một bức ảnh đoạt giải Pulitzer năm 1973 (Sám Hối), Mai Thái Lĩnh, nhà bất đồng chính kiến, người biên soạn tài liệu “Lộ trình xây dựng một hiến pháp dân chủ” (Lời Của Thác). Vân vân.

Có vẻ như thơ Sơn Cước là viết về những cá nhân. Hoàn toàn không! Trong thơ của anh, những khuôn mặt có thực đó là những nghịch lý lịch sử, xuất phát từ những trớ trêu không tránh khỏi của một giai đoạn đất nước bị sự chi phối của nhiều xu hướng đối nghịch nhau. Nhưng điều oái oăm là, trong tâm cảm của anh, nghịch lý đó vẫn còn tiếp tục mấy chục năm sau khi đất nước đã hòa bình.

Tôi tưởng tôi đã quên
Tuổi trẻ đi qua
Tuổi già đang tới
Bạn bè ơi, ai còn ai mất
Ai kẻ vong thân
Ai người quay mặt
Hỡi Huế – Sài Gòn Hà Nội
Bao nhiêu năm sao vẫn chờ mong (TĐSC/Vẫn Sống Cùng Ngụ Ngôn)

Đất nước, rốt cuộc, qua nhiều và nhiều thế hệ, người ta vẫn còn ở trong tình trạng “chờ mong.”

Dẫu vậy, thơ Trần Đình Sơn Cước không phải lúc nào cũng đầy khắc khoải và nỗi niềm như thế. Vẫn có những lúc, lòng anh lắng lại:

Ra vườn thấy hoa nở
Đi chợ gặp người đông
Nhìn trời mây gió lộng
Nhìn mình lòng rỗng không (TĐSC/Tâm)

Bài thơ ngắn nghe có mùi thiền vị.

Tôi chia sẻ những giây phút “lắng lòng” hiếm hoi này của Trần Đình Sơn Cước. [hp]


Trần Đình Sơn Cước sinh năm 1950 tại Huế. Thời trẻ, theo học Trung Học và Đại Học Luật Khoa ở Huế, hoạt động văn nghệ và tham gia phong trào sinh viên. Hiện đang định cư cùng với gia đình ở San José, Hoa Kỳ. Cộng tác với một số tạp chí mạng: Trần Thị Nguyệt Mai, Trẻ Magazine, Văn Việt, Diễn Đàn Forum, Văn Chương Việt…Tác phẩm đã xuất bản: Vẫn Sống Cùng Ngụ Ngôn (2026), in chung với Trần Kiêm Trinh Tiên, do “FocusDigitalPublishing” xuất bản tại Hoa Kỳ.


[1] https://tranhoaithu42.com/2012/06/04/tho-ve-hue-trong-thoi-chien-1/

[2] Xem: Nguyễn Đính, như tôi biết https://damau.org/49667/tap-ghi-thang-nam-nguyen-dinh-nhu-toi-biet

Trần Vàng Sao, Tôi bị bắt https://vietnamthuquan.eu/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvnnnmn2n0n31n343tq83a3q3m3237nvn&AspxAutoDetectCookieSupport=1#phandau

[3] https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=15741

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT