Bắt cá đẻ

LTS: Nhật báo Người Việt mở mục “Độc Giả Viết” nhằm mời gọi quý độc giả “cùng làm báo” với Người Việt, chia sẻ những rung cảm, ý tưởng, quan niệm, hồi ức, kiến thức, kinh nghiệm… về đời sống và xã hội. Để tham gia, quý độc giả vui lòng gởi email: [email protected].

Nguyễn Đình Từ Lam

Chúng tập trung dày đặc, chậm chạp bơi nghiêng mình lộ những cái bụng trắng hếu no tròn. (Hình minh họa: Toru Yamanaka/AFP via Getty Images)

Ánh nắng buổi sớm mai ươm vàng chạy xuyên qua lớp lớp sương mù dày đặc. Thời tiết Tháng Chạp se se lạnh. Cây sầu đông đứng ở góc sân nhà dưới đã trổ đầy bông, xa xa nhìn lên, giống như những dãi khăn trắng treo vắt vẻo đầy cành.

Cha đứng nơi hè nhà trên, hai tay đút trong quần ủ ấm, mắt nhìn chăm chăm ra phía đầu ngõ, cha nói với hai anh em tôi đang ngồi bên cạnh:

– Năm nay trời lập xuân sớm, có lẽ cá sông Tiên sắp sửa vào gần bờ đẻ. Ba cha con mình sớm đi vét chăn là vừa.

Mấy năm trước, cá sông Tiên đều về vầy đẻ ở một trong hai vực. Một là Vực Tròn, không nữa là Vực Nà Cờ. Tôi và em trai theo cha đi vét chăn nơi Vực Tròn trước tiên.

Vực Tròn có bãi sông phía bên này xã Phước Kỳ rất sạch sẽ, không một chút cỏ rác hoặc lá cây khô mục, chỉ có toàn đá là đá dèm dẹp nâu bóng trải dày.

Cha dùng cuốc cào dồn đá bãi lại thành từng đống, anh em tôi cùng nhau lấy hai tay hốt đá bỏ vào trạc, khiêng ra đổ ngoài. Khi đá đã được chuyển sạch, còn trơ lại toàn cát, cha lấy cuốc vét bỏ đi một lớp cát sâu đủ làm được một cái chăn có hình tròn tròn sâu khoản hai tấc tây và lớn hơn một cái nong phơi lúa. Khi cha vét xong, anh em tôi khiêng đá trở lại sắp kín đáy chăn.

Cứ làm thế, chưa đầy một buổi sáng, cha con đã vét được ba cái chăn cá đẻ. Sau rốt, hai anh em đi dọc theo mé bờ sông, nhặt một mớ rêu xanh đem trải đều trên mặt chăn. Còn cha lo trổ cửa chăn ăn thông với vực nước, khi thấy nước chảy luân lưu vừa sim síp, tráng đều mặt đáy chăn, cha vui cười bảo, mức nước vào ra chăn như vầy là quý lắm rồi.

Xong việc, cha ngồi chồm hổm trên bãi, vừa nghỉ mệt vừa hút thuốc. Anh em tôi chạy lon ton trên bãi, cuối nhặt những miếng đá thật láng, mỏng dính để chơi trò thi nhau lóc đá nhảy lướt trên mặt nước, đứa nào có số đá nhảy lên được bờ bên kia nhiều hơn là thắng cuộc, lần nầy cũng như bao lần trước, hầu như em trai tôi đều thắng cả. Cha đã hút tàn hai điếu thuốc, đã thèm.

Mặt trời đứng bóng, cha vội hối thúc bọn tôi:

-Thôi! Nghỉ chơi, lo dọn dẹp dụng cụ, còn phải về ăn cơm trưa, kẻo mẹ mấy con ở nhà, trông.

Buổi chiều hôm ấy, thỉnh thoảng hai anh em chạy xuống sông thăm chừng, dò xem bầy cá có về vầy đẻ chưa. Nhưng chưa thấy tăm hơi, mặt nước sông Vực Tròn vẫn vắng lặng. Chỉ thấy trên bãi, đông đúc bà con đang bận rộn vét chăn, làm ụ.

Ngày hôm sau, ba cha con lại vác cuốc, cầm rựa, quẩy trạc… lên tận Vực Nà Cờ gần thác Lò Thung, vét thêm mấy cái chăn nữa. Năm nay, bà con chưa ai dám đoán chắc cá sẽ về vầy đẻ ở vực nào, Nà Cờ, Vực Tròn hay ở một vực nào khác. Ngay suốt cả con sông Tiên, dòng nước vẫn bình lặng, chảy êm ả, chưa thấy bầy cá đẻ lộ diện ở đâu cả.

Mãi đến mười ngày, sau hôm ba cha con tôi vét chăn ở bãi Vực tròn; buổi sáng mọi người trong nhà ngủ dậy thật sớm, lo chuẩn bị lễ vật cúng đưa Ông Táo về Trời. Bỗng thấy chú cả Diễn, người em họ của cha, từ ngoài ngõ đi cà thọt vào sân, vừa đưa mắt chăm chăm ngó vô nhà, miệng hỏi lắp ba, lắp bắp nho nhỏ:

– Anh Ba có nhà không, hè?

– Tôi đây.  Cha tôi trả lời.

– Sáng ni, tôi đi đổ cá sa, thấy bầy cá nhiều lắm, chúng đang vầy nhâm nước ở búng Vực Tròn. Chắc chúng sắp vào bờ đẻ. Mau lên anh Ba, kẻo hụt mất, uổng lắm.

Ba cha con tôi vội vàng, vừa đi vừa chạy bươn bả xuống sông. Cha một vai mang tấm lưới ba, vai kia quẩy chiếc giỏ lái; em trai tôi tay xách cái nơm; còn tôi vai vác cái đó, tay cầm vợt.

Khi vừa tới sông, thấy bà con tụ tập dày đặc. Có gia đình đàn ông, con trai đi hết cả xuống đây. Mọi người xúm nhau đứng xa xa nhìn ra giữa vực, không dám xuống gần mé sông, sợ động, bầy cá bỏ vầy, rủ nhau bơi đi đẻ nơi khác, tiếc lắm. Nhưng ai nấy cứ mãi ngồi rình, chờ.

Bầy cá vẫn bơi vần vũ giữa sông, chưa chịu vào bờ, khiến mọi người đâm ra lo lắng. Có kẻ quá nóng lòng, bèn len lén dò dẫm ra gần sát bờ nước nơi có hàng hàng cái chăn sắp dài dài ở đấy, thăm dò một lúc, chạy lên hớt hải nói với mọi người đang đứng ngồi túm tụm:

-Đêm qua, bầy cá vào bờ chuẩn bị chỗ đẻ. Tôi thấy chúng đã tướt sữa dính nhập nhầy trên đá trên rêu, dọc dọc theo bờ nước.

Nghe vậy, ai nấy đều mừng rơn. Có người không giữ được miệng, lớn tiếng:

– Cá đã tướt sữa rồi. Chắc chắn không bao lâu nữa, chúng sẽ vào bờ đẻ. Sướng quá chừng, bà con ơi! Ta mau sửa soạn xung trận là vừa.”

Bầy cá bơi vần vũ ngời ngời giữa vực sông, lúc chìm, lúc nổi, lúc phơi sống lưng xanh rì trên mặt nước. Chúng chạy vầy vầy quanh quanh một đỗi, rồi mở rộng vòng bơi, chuyển hướng. Từng đợt, từng đợt… rất lớp lang, nôn nã bơi vào bờ. Chúng tập trung dày đặc, chậm chạp bơi nghiêng mình lộ những cái bụng trắng hếu no tròn, rồi lóc lách trườn bụng đè lên lớp lớp đá nhám phủ đầy rêu xanh nhơn nhớt sữa cá. Đây là lúc cá bắt đầu rặn đẻ. Con nào con nấy dạn hít, mắt lờ đờ, mệt nhọc, chẳng còn biết né tránh đám người đang đứng trên bãi sông sát mé nước cạnh chúng.

Ai nấy, nào đàn ông, thanh niên, thiếu niên, con nít choai choai… vội vàng cởi sạch quần áo để hết trên bờ, ở truồng ở trần như nhộng, họ kêu dói, gọi bảo nhau râng rang, vang dậy cả sông nước.

Tất cả xăng xái nhào ra, mang xách, cầm vác đủ thứ đồ có thể dùng để bắt cá. Chỗ nầy, bà con lấy mành đăng dừng kín khoanh vùng cô lập bầy cá đẻ vào trong, chỉ cầm vợt, vợt cá đổ vào giỏ vịt hay giỏ lái là xong. Chỗ kia mấy người dùng cái nhủi đẩy cá vô bờ, cho cá nhảy tấp lên bãi hoặc lóc lách chạy vào chăn, họ dùng vợt dùng rổ xúc vợt cá đổ vào giỏ, vào bao bố gọn trơn. Có nơi tụi con trai dùng giỏ hái chè để đừa xúc, vẫn bắt được cá như thường. Có một số chăn cá tự vào đẻ, nằm sắp lớp, chủ chăn chỉ cần khuân đá lấp kín cửa chăn là bắt gọn, nhanh như trở bàn tay.

Nơi gần bờ sông đầu thác Vực Tròn  nước cạn nhưng chảy hơi mạnh, những loại cá lớn như cá gáy, vạp, măng nằm đẻ khá nhiều, ba cha con ông trùm Bạnh nhanh chân khiêng hai cái đó bự chát, đặt nằm xuống nước gần gần dưới chỗ cá nằm đẻ, họ dùng tay, dùng rổ xúc lùa từng đợt cá lóc lách lườn vào miệng đó; khi nào cá sắp đầy, họ hè nhau khiêng  lên bờ, mở nơm đó trút cá vào bao bố, khỏe re dễ ợt.

Riêng ba cha con tôi có ba cái chăn nằm kế tiếp nhau, thế nên vùng bắt cá của chúng tôi khá rộng nhưng cá nằm đẻ rải rác ít oi. Chúng tôi bắt cá bằng tấm lưới ba có chân lưới gắn nhiều cục chì to nặng, lại đeo thêm những vỏ ngao màu trắng to gần bằng bàn tay  sè; cha và tôi sải lưới ra, mỗi người cắp nách một đầu lưới, đem ra ngoài  biên sát gần bầy cá đẻ, rồi từng bước một cẩn thận kéo lưới lùa bầy cá vào hướng bờ sông; em tôi ở bên trong xây mặt về phía lưới, vừa đi lùi vừa dùng vợt xúc cá đang nằm đẻ, vừa dùng tay bắt cá mắc lưới bỏ vào giỏ vịt.

Khi vợt cá hơi nằng nặng, em để vợt nửa nổi nửa chìm dưới sông rồi cố sức kéo lên bờ, loay hoay mãi mới tìm được cách trút cá vào giỏ lái. Bắt mới được một lúc, em ngồi bẹp trên bãi hai tay bó gối, không chịu xuống nước bắt tiếp. Thấy vậy, tôi hối thúc, em hiu hiu buồn, nói:

– Anh Bốn biết không! Mình bắt cá, chúng phải chịu chết oan, có con vật nào muốn chết mô. Em chịu thua, không dám bắt nữa, thấy tội nghiệp chúng lắm!

Cha tôi thì luôn chiều chuộng em, ông nói với tôi:

– Đã biết tánh em con như rứa, thôi đừng ép nó.                                                                                                                                     Thế là cha với tôi, từng bước dò dẫm kéo lưới vào phía bờ để lùa cá nhảy lên bãi sông hoặc chạy thọt vào nằm gọn trong chăn, số cá còn lại mắc ở giàn lưới. Sau đó hai cha dùng nơm, dùng vợt, dùng tay gỡ, bắt gọn mớ cá bỏ vào giỏ lái.

Đặc biệt, gần cuối năm nay, ở thôn tôi, một số đàn ông trai tráng rủ nhau lên sông Trường tận thượng nguồn Trà My, giẫy lưới bắt cá đem về ăn tết. Chỉ còn mấy bà ở lại nhà, nghe tin có cá đẻ ở Vực tròn nên vội vàng chạy đi xem, thấy cá nhiều quá, liền lội xuống sông ra tay bắt hôi.

Mỗi lần họ nẹn được con nào, con nấy mình mẩy trơn nhớt, cá vừa vùng vẫy là trụt khỏi tay, chạy ra giữa sông mất tiêu. Không bắt được, mấy bà tiếc hụt, liền nghĩ kế, bà nào bà nấy cởi trút lút quần, ở truồng dồng dổng, họ cột thắt hai ống quần lại thật chặc, lấy hai tay cầm quần luồn xuống nước rồi lấy bàn chân đừa cho cá chạy rúc vào quần.

Khi cá bắt được đầy hai ống quần, mấy bà bèn len lén kéo quần lên bờ, đem đến mấy bụi cây rù rì rậm rạp, vừa ẩn núp vừa đổ cá ra, xâu lại thành từng dọc; rồi lại lén lút chạy vụt xuống nước bắt tiếp….

Mấy thằng con trai choai choai hết chỗ bắt cá, giỏ vịt đựng cá của chúng lại đầy ắp, nên bèn lên bờ mặc lại quần áo, nhen đống lửa, xúm nhau quây quần đứng ngồi sưởi ấm, nói cười đùa giỡn râng rang. Chúng liếc chéo, nhìn ngang, ngó dọc. Trên bãi, dưới nước, bà con ai nấy đều ở truồng. Có đứa rắn mắt, nổi lên to tiếng trêu chọc cho đã miệng:

– Bọn bây ngó tê! Mùa cá đẻ năm ni khác lạ lắm đó. Không như mậy năm trước.

– Khác con khỉ khô chi? Có  đứa trong bọn chúng lên tiếng.

– Thì, cá đẻ nhiều hơn. Còn có cả cá rói, cá niêng, cá gáy, cá vạp… Chứ không như mậy năm, toàn là cá sốc.”  Một thằng làm khôn trả lời.

– Trật lất hết trọi.

– Chứ khác nỗi chi. Nói nghe coi?

Thằng trai choai choai láu cá, bấy giờ mới chịu ‘bật mí’:

– Thì, năm ngoái năm xưa, đến mùa cá đẻ thấy toàn cá tràu. Năm nay ngoài bầy cá tràu đông nghể, lại lẫn một số cá diếc to mề, múp rụp…, trông dễ sợ quá, bọn bây ơi!

Thằng láu cá vừa nói oang oang, tay vừa chỉ xuống bà con trên bãi, dưới sông; đàn ông ở trần truồng… Mấy bà, bẻm cá diếc, e dè, lúc lộ lên trên, lúc ẩn dưới lòng nước. Cả bọn ngó theo thằng láu cá, cùng ré lên cười, miệng chúng hả hoác, la lớn:

– Cá tràu, cá diếc… cá diếc, cá tràu… Cá tràu dần cá diếc, cá diếc nuốt trệu trạo cá tràu. Con tràu, cái diếc… Cái diếc, con tràu…

Bị trêu chọc, mấy ông liếc khéo mấy bà, rồi ngó xuống mình, thấy ngượng, liền lấy tay che, lên bãi mặc lại quần. Có ông rướm bước muốn rượt đuổi bọn trẻ choai choai miệng lại vừa to tiếng chửi mắng bọn chúng:

– Tổ cha tụi bây. Đồ quỷ sứ…

Phần mấy bà nghe chọc, mắc cỡ, mặt mày đỏ rầng, vội vàng kéo quần cá lên bờ, chạy lủi đến núp ở mấy bụi rậm, hấp ta hấp tấp xâu cá, mặc lại quần, rồi vội vàng mang xách mấy dọc cá dài, len lén men theo đường lối đi về.

Còn bọn trẻ sợ mấy ông đuổi đánh, đành im bặt, nhanh chóng nách vịt cá, lủi chạy một mạch, mất tiêu.

Năm nay, cá về đẻ bề bộn, nhiều nhất là cá sốc, thứ đến cá niêng, cá rói, cá lúi, cá vạp, cá gáy… Bà con đi bắt lại quá đông, nên chưa đến nửa buổi mai, loanh quanh bờ vực sông đã ngớt cá, chỉ nằm rải rác đây đó vài con cá sốc nho nhỏ, chẳng mấy ai thèm bắt.

Tôi đi xuống đuôi thác Vực Tròn xem coi, thấy mấy con cá gáy, cá vạp, và một khúm cá lúi nằm lẫn vào những đám rêu dài thườn thượt gần bờ, có nước chảy róc rách. Cá to quá khiến tôi giựt mình, liền bỏ chạy lên nói thầm với cha. Cha con tôi vác đó, đem nơm, cầm vợt xuống, bắt được mấy con gáy, ít con vạp và một mớ cá lúi, chúng chưa kịp đẻ, bụng còn no nưởng mập mềm.

Cá đẻ sông Tiên đợt nầy, ba cha con tôi bắt được gần đầy một nửa giỏ lái, thế là đã mừng lắm rồi, còn trúng hơn mùa cá đẻ năm ngoái, chỉ được một giỏ vịt lưng lưng.

Khi chúng tôi khiêng giỏ cá về đến nhà, mẹ lấy cái nong phơi lúa để giữa sân, cha trút cá lên trên. Cả nhà xúm lại. Mấy đứa em gái còn nhỏ, cứ chạy vòng vòng quanh nong, xem cá, chỉ trỏ nói cười thích thú.

Cha cầm rựa chẻ tre, kẹp những loại cá ngon như cá rói, cá niêng, cá hanh thành nhiều gắp, rồi phết mỡ hành lên mình cá, tôi vào bếp gạt lửa than đem nướng. Cá gáy, cá măng, cá lúi,mẹ và chị hai đem ướp muối tiêu, nước mắm tỏi, nghệ, đường đem kho thành nhiều nồi, nhiều trã. Những loại cá nướng, cá kho nầy là những món cá ngon ‘tuyệt cú mèo’ của dòng sông Tiên nước ngược.

Cá sốc đẻ năm nay bắt được khá nhiều, mẹ đem phân làm hai: -Một số đem nhúng nước muối để phơi khô; số nữa đem làm cá muối, cứ sắp mỗi một lớp cá lại rắc lên một lớp muối hạt, đến khi sắp hết cá, mẹ rắc lên một lớp đường mía đen, trên cùng bỏ thêm một lớp cớm nỗ, xong đâu vào đấy, mẹ đậy nắp ghè, lấy dầu rái khằn miệng ghè lại thật kín, không cho hơi gió lọt vào bên trong ghè cá muối. Cá phơi khô và cá mặn muối ghè để dành bao lâu ăn cũng còn ngon và rất đượm. Nhất là trong những ngày Đông tháng giá hoặc lắm khi trời mưa lụt lâu ngày thúi đất hay gió bão liên miên; người người không ra được khỏi nhà, khỏi cửa; nậu biển không gánh được cá mắm lên nguồn đổi bán. Trong nhà sẳn có cá sông Tiên, kho nướng hay chưng lên, ăn với cơm gạo lúa giồng vàng nâu thơm phức, ngon miệng, ăn đến no bụng, vẫn còn thèm.

Đặc biệt đầu năm ấy, bà con quê tôi nghe được tin vui là có hưu chiến trong ba ngày Tết. Thêm phần, mùa gặt Tháng Mười vừa qua trúng to, lúa đổ đầy ví, đầy lẩm; nhà nhà có cá đẻ sông Tiên dồi dào để cúng cấp. Ai nấy cứ tưởng chắc được hưởng một cái Tết truyền thống đầm ấm, an lành, thanh bình…

Nhưng mọi người chẳng được toại nguyện. Ba ngày đầu Xuân, chiến tranh lại cứ bùng nổ dữ dội. Quê tôi chìm trong máu lửa, nhà cửa, của cải tan nát. Gia đình ly tán, kẻ chết, người bị thương, mất tích… Những ai còn sống sót thì đành bỏ cúng tết nửa chừng, bươn bả chạy tứ hướng, tìm nơi ẩn trú, lánh nạn.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT