Hẻm xưa

LTS: Nhật báo Người Việt mở mục ‘Bạn đọc viết’ nhằm mời gọi quý thân hữu ‘cùng làm báo’ với Người Việt, chia sẻ những rung cảm, ý tưởng, quan niệm, hồi ức, kiến thức, kinh nghiệm,… về đời sống và xã hội. Để tham gia, quý bạn đọc vui lòng gởi email: [email protected]

Hoa Mai

Hình như việc định cư ở nơi nào đó không hẳn phụ thuộc vào việc có tiền hay không. Thực tế sự dịch chuyển nơi ở của cuộc đời tôi hầu hết có duyên với ngõ, hẻm.

Hẻm nhà tôi len lỏi cũng hết cả tiếng đồng hồ. (Hình minh hoạ: Tuổi Trẻ)

Ở Hải Phòng, khi con đến tuổi vào lớp Một, tôi không ở khu tập thể của công ty du lịch dưới Đồ Sơn nữa mà lên phố mua nhà. Ngôi nhà đầu tiên của tôi trong ngõ Đằng Giang. Ngõ dài xoắn như dây thun, hun hút cả cây số. Chủ yếu dân lao động, buôn thúng bán bưng, giang hồ xóm, rằn ri vằn vện đủ cả. Dân công chức như tôi không nhiều.

Tôi con nhỏ, đi làm về chỉ lụi hụi trong khuôn viên vườn nhà, đi lại với dăm nhà hàng xóm thân thiết.

Sau này đổi lên phố Lê Lợi, nhà to hơn nhưng vẫn trong ngõ, dù ngõ chỉ cách mặt đường vài chục mét.

Thời gian ở đó một năm, chồng đi xa, con nhỏ, chả kịp lưu lại kỷ niệm lưu luyến gì. Nhưng ám ảnh với máy nước công cộng và sắp hàng đi nhà vệ sinh công cộng mỗi sáng.

Ngày vào Sài Gòn, con nhỏ mới ba tuổi, mua nhà trong hẻm 35 Bùi Viện. Nhà quẹo qua mặt đường khoảng 3 căn và xinh xắn lắm. Nhà ngoảnh vào hông chùa Phước Hậu. Nhà nở hậu 7 mét, một trệt một lầu cây nên mát mẻ.

Ở Sài Gòn, cứ queọ vào thì gọi là hẻm, nếu quẹo tiếp gọi là xuyệt. Mấy quẹo thì tiếp mấy xuyệt. Nhà tôi ở quẹo thứ nhứt nên chỉ một xuyệt. Hẻm thông từ đường Bùi Viện sang đường Trần Hưng Đạo. Phía hẻm giáp mí Trần Hưng Đạo là rạp cải lương Trần Hữu Trang. Vì là hẻm thông, từ đó tỏa ra rất nhiều nhánh hẻm nhỏ len lỏi trong xóm dân cư. Xóm nhà tôi phình to như bụng một con thuyền lớn có nhiều chân là các đầu hẻm nối nhau. Dân số trong hẻm còn hơn một làng ngoài quê. Ồn ào phức tạp, đông vui nhưng lại gợi nhớ không nguôi.

Khác với khi ở Hải Phòng, đi trong ngõ vẫn làm tôi xa lạ, sờ sợ vì các ánh mắt dè chừng, săm soi, hay vì thời gian cư ngụ không lâu, chưa kịp nảy sinh tình cảm. Với lại, hồi đó dân ngoài Bắc còn kỳ thị vùng miền lắm. Mà giọng tôi thì rặc thổ âm xứ Nghệ, nên cũng mặc cảm, ít dám giao tiếp người lạ.

Còn ở hẻm Bùi Viện lại khác, dân tứ xứ cư ngụ, Bắc, Trung, Tây, Nam, Ba Tàu đủ hết, chả ai rảnh mà kỳ thị ai. Dân Huế (ai cũng lầm tôi người Huế) với mấy người xứ “nẫu” chọc nhau hoài vì không ai nghe ai cả.

Hồi đầu, trưa đi làm về, đóng cửa nằm trong nhà chả thể chợp mắt vì tiếng rồ các loại xe gắn máy, tiếng cãi cọ chuyện trò… và tiếng rao. Ôi chao, đủ giọng rao của người bán dạo. Nhưng có vài giọng rao đặc biệt ghi dấu làm tôi tò mò.

Ôi chao đủ giọng rao của người bán dạo. (Hình: Nguyễn Bá Trạc)

Một là giọng rao lanh lảnh “chăm trái bắp một chăm” mà chịu không biết đấy là món gì. Rồi “Ai thịt chó đây, chó đây” là một giọng rao khàn khàn đều đều, như phát ra từ cái loa rè, yếu ớt. Trưa nào cũng điệp khúc đó. Không ngủ được với câu hỏi cứ xoắn trong não: Kỳ thế, sao thịt chó lại đi bán dạo, rồi dao thớt chặt chịa làm sao, mà vừa rao vừa đi vùn vụt thế, ai kịp mua mà ăn. Rồi một ngày không nhịn được, tôi hé cửa mới biết, “chăm trái bắp một chăm” là 1 đồng một bắp ngô luộc. Còn “thịt chó đây, chó đây” là xổ số đây, xổ số đây.

Hẻm nhà tôi len lỏi cũng hết cả tiếng đồng hồ mới đi kiệt các hẻm, xuyệc. Dù gần chợ Thái Bình sầm uất, nhưng trong hẻm chả thiếu hàng quán gì. Từ bà bán ốc kề nhà tôi đến các quán điểm tâm sáng, cơm bình dân trưa, quán karaoke, tiệm gội đầu, tiệm thời trang, tiệm làm đẹp…, đi cả buổi, nắng chả tới đầu. Có quán chè của cô người Hoa, cổ cũng tên Hoa, chồng tên Ngầu, cổ da trắng bóc, tóc đen dày, đẹp mướt mượt. Cổ nấu chè ngon, mỗi tội tuyền mặc áo ba lỗ, lông nách rậm rịt, xanh mướt, nhiều khi mồ hôi theo lông nách chảy có dòng. Cổ xởi lởi hay chuyện, tôi đi qua, cách gì cũng chèo kéo lại nói chuyện.

Có lần, tôi đánh bạo hỏi khi thấy nước trong lông nách cổ chèm nhẹp: Ủa, sao không cạo lông nách bớt đi. Cổ tròn mắt cười lớn: chồng tui yêu vì lông rậm đó, ổng đừng hòng cho cạo. Tôi không phải đàn ông nên bán tín bán nghi, không biết cái món đó có hấp dẫn đàn ông thiệt không, nhưng chịu không thể dự trữ được, ngứa ngáy lắm.

Trong hẻm có một gánh mì vịt tiềm nho nhỏ. Có lẽ tiệm mở lâu lắm rồi, vì nồi niêu quang gánh lên nước cũ kỹ. Nhưng tô mì thơm ngon với những gắp mì sợi nhỏ, dai, cái đùi vịt mềm, ngọt thì mỗi khi nhớ lại ứa nước miếng. Một gánh hàng quà xế nữa là chè mè đen của một cô xứ Huế. Hồi đầu thấy chén chè đen bóng sền sệt, tôi ghê ghê, không dám ăn. Nhưng thử một lần rồi ghiền luôn.

Hẻm nhà tôi cũng như bao con hẻm khác của Sài Gòn, đó là đông đúc, ồn ào, đủ các thành phần. Phần lớn cũng là dân lao động. Không như ngoài Bắc, ai cũng cố gắng học hành hay cạy cục lo lót để có một chân làm “nhà nước” cho chắc ăn, chí ít cũng là công nhân một sở nào đấy. Ai mà làm ngoài sẽ bị xếp vào thành phần không ổn định. Nhưng bà con trong hẻm xóm tôi ở phương Nam này, tỉ lệ người đi làm công sở không nhiều. Nhưng ai về cư ngụ ở đây rồi cũng yên ổn cả. Từ bác bán chạp pô đến bà bán đồ ăn cho tới bác xe ôm, hay cô gội đầu… ai cũng cặm cụi với mưu sinh của mình. Không ai cười chê, tò mò công việc của ai.

Cái cách bà con mua bán, ăn hàng của nhau cũng là một cách bà con giúp nhau mưu sinh, như cách san sẻ thu nhập để cùng sống. Cũng là làm nên lối sống phóng khoáng nhẹ nhõm của người dân phương Nam. Nên dân tứ xứ du cư về đây cũng dễ lây cách sống “mọi chuyện mai tính” như thế.

Dân công chức như tôi được nể hơn chút, cũng vì tôi sống hòa đồng, giản dị. Còn một thành phần không thể thiếu của dân hẻm: đó là những người cho vay tiền góp. Những người buôn bán nhỏ, những cô gái ăn sương trọ trong hẻm, luôn cần tiền làm vốn buôn bán, hay tiêu xài, nên người cho vay góp vay lãi, đầu hụi là một nghề kiếm ăn được.

Đối diện cổng chùa là vợ chồng anh chị làm tín dụng đen như thế. Vợ cho vay góp, cầm đồ, chồng bảo kê, cả hai vợ chồng đều to béo. Ông chồng luôn đánh trần, mặc độc cái quần lửng, cái lưng nần nẫn bóng nhẫy mỡ, bụng thây lẩy, mỗi bước cái rún sâu ủm lại rung rung theo bước đi. Cái dây chuyền vàng to như dây lòi tói, tòn ten trên cổ. Vài bữa, vợ chồng lại đánh nhau một bữa ầm ĩ cả xóm. Nhà chùa khóa chặt cửa, dân hẻm thì quen rồi, kệ. Vì chốc sau lại thấy chồng trước vợ sau hí hởn chở con đi ra phố ăn quà.

Thằng con lớn của hai bác ý cũng gần hai mươi, mặt mũi khá điển trai hiền lành. Bình thường, trò chuyện với tôi lễ phép đàng hoàng. Vậy mà lâu lâu lại thấy nó lấy dao Thái Lan khứa khứa đầy tay đầy đầu cho rớm máu. Những khi đó nhìn nó thương lắm. Có lần tôi định nhào ra cản nó, bị chị hàng xóm giữ lại, bảo: kệ nó, nó xài ken đấy, nó say thuốc. Khi đó tôi chả hiểu ken là gì, mà lòng cứ xót như xót em mình. Tay chân nó đầy sẹo.

Trong hẻm có các cô “cave” ở trọ. Chả biết đêm các cô làm gì nhưng dậy muộn lắm, rồi ăn quà, tán chuyện, cãi cọ. Mỗi khi tôi đi, về qua hẻm, các cổ hay xuýt xa: Chị ơi, sao chị đẹp thế, không sớt cho tụi em với… Thỉnh thoảng, hình như công an bố ráp các nhà nghỉ, đêm cả hẻm lại rậm rịch vì các cô cave đưa khách về trong hẻm tạm trú. Các nhà trong hẻm í ới chia nhau cho thuê nhà mình làm “phòng nghỉ.” Hồi đầu thấy những chuyện ấy hoảng lắm. Nhưng sau thấy ai cũng kệ, cũng là vì mưu sinh thôi. Ai làm gì kệ người ta. Nhưng tôi ớn nhất là tiếng hát karaoke ồn ĩ trong hẻm cả ngày cả đêm. Sao nhiều người rỗi thế, một ngày chủ nhật cũng không thể yên tĩnh phút nào. Điệp khúc “Em ơi sáu mươi năm cuộc đời” hay “Tình cho không biếu không” ám ảnh trong đầu đến tận giờ.

Nhà hàng xóm sát vách nhà tôi gốc Bắc di cư. Vợ hơn chồng 9 tuổi. Mấy đứa con đều đẹp, đứa nào cũng cao, chân thẳng tắp, da bánh mật. Chả đứa nào đi học. Đứa con gái nhỏ, 15 tuổi mẹ không bắt làm gì hết, chỉ cho đi bơi. Hỏi sao siêng đi bơi vậy, không sợ tốn tiền à? Chị ấy bảo: Chăm cho đẹp bán trinh mới có giá, rất hồn nhiên! Nhưng chị trò chuyện cư xử với mẹ con tôi vui vẻ trọng đãi lắm. Gì cũng kể, cả chuyện mấy lần đi tù, vì lí do gì. Cũng chịu không thể xếp gia đình chị vào thành phần gì. Tôi chỉ thấy mình làm hàng xóm vẫn yên ổn, người ta tử tế với mình, trân trọng mình, vậy là đủ.

Ba năm làm dân cư hẻm, ồn ào chút, phức tạp cũng có nhưng tôi lại thấy gần gũi an lành. Hay tôi hạp với cách sống chân thật của dân cần lao?! Tôi rút kinh nghiệm là ở đâu mình cứ sống chân thành, gần gũi thông cảm người ta, tôn trọng bà con thì sẽ nhận lại y vậy. Vì tôi chịu không thể sống kiểu thảo mai và cũng né những người giả lả thơn thớt thảo mai, ít sán lại mà chơi thân.

Phố Bùi Viện đã thành phố Tây từ lâu. (Hình minh hoạ: Báo Tuổi Trẻ)

Có dạo cô gái làm nghề ăn sương ở trọ trong hẻm, cổ gốc miền Tây, người thanh mảnh, xinh xắn. Là cô hay trầm trồ “chị đẹp thế” mỗi khi tôi đi qua, bẵng đi một thời gian, thấy cổ gầy đét, da xám xịt, ngồi phụ bán vặt trong hẻm chợ Thái Bình, tóc tai xác xơ.

Tôi hỏi nhỏ: Sao mà xuống sắc dữ vậy. Cổ rơm rớm nước mắt: Em bị si đa rồi chị ơi. Tôi choáng như nghe sấm giữa trời quang. Hồi đó, căn bệnh thế kỷ còn khủng khiếp lắm. Vậy mà lạ, tôi không hề thấy ghê tởm hay kỳ thị gì cả, chỉ thấy xót xa cho một phận đàn bà. Từ đó, mỗi khi gặp, tôi lại cho một ít tiền. Những lúc ấy, ánh mắt hàm ơn của cổ làm tôi mủi lòng. Trên đời này ai không mang một số phận. Mỗi cuộc đời là một hoàn cảnh. Mình thấu hiểu, san sẻ cho họ một xíu thông cảm cũng âu là dành chút nhân tình.

Hoàn cảnh tôi chồng luôn đi công tác xa, con nhỏ, công việc cơ quan bận bịu. Tính tôi cũng không hay la cà buôn chuyện, nhưng lại rất hay được mọi người tâm sự chuyện sâu kín. Hay tại tôi chịu khó lắng nghe? Hay tại bà con bình dân chân chất họ tìm thấy sự tin cậy thông cảm nơi tôi. Tôi chỉ biết mấy năm sống ở con hẻm Bùi Viện, tôi biết được bao số phận, đủ để thấy đời nhân thế khổ nhiều, sướng ít. Đủ để thấy dành một chút tình thương cho bá tánh, mình sẽ vui vẻ hơn nhiều. Dân cần lao họ có thể học ít, có thể phông văn hóa không cao, ăn nói bỗ bã nhưng lại rất sẵn sàng chia sẻ tình thương.

Hồi đó nhà tôi có cái tivi màu 14 inch. Tối Thứ Bảy, có chương trình cải lương là trẻ con bám lúc lỉu nơi song cửa, có cả dăm người lớn. Vậy là tôi mở cửa cho vào xem. Những ngày hẻm cúp điện, phòng khách nhà tôi, bọn trẻ trong xóm ngủ sắp lớp.

Nhớ lần tôi có bầu đứa con thứ ba, bị ốm nghén dữ dội, cứ bước đi là ngã dúi đầu xuống. Đi làm không nổi, đi chợ cũng không xong. Thầy bói bảo phải sanh đứa nữa thì vợ chồng mới ở với nhau được. Đã cố hết sức mà không nổi, vì sức khỏe yếu quá. Vậy là bảo với chồng rồi tự bắt xe ôm vào Từ Dũ. Làm xong, lại gọi xích lô về, nằm một ngày thì dậy, chụm đầu gối lê trên sàn lau nhà, giặt đồ, rửa chén, vì ngày qua tôi nằm dưỡng bịnh, chồng và anh cu con 5 tuổi dùng đồ xong dồn lại. Khi tôi yếu quá, lăn đùng ngất xỉu, mém bị băng huyết, cả xóm xúm vào cứu chữa, đưa tôi đi bệnh viện. Chính ông chồng bà làm nghề cho vay bế tôi ra xe, còn xuýt táng ông chồng tôi một trận vì tội vụng về không biết chăm cho vợ. Cứ thế từng ngày sống trong con hẻm nhỏ cũng đủ xây nên thứ tình quyến luyến trong tôi.

Sau này, khi đã chuyển đổi ra nhà mặt phố, lòng vẫn noái về hẻm cũ, thỉnh thoảng qua thăm, bà con chào hỏi tíu tít. Cô bán chè rậm lông được chồng yêu gọi bằng được tôi vào để hỏi han, trò chuyện. Chồng cổ đã mất. Chỉ một giờ hàn huyên, tôi lại điểm danh được bao số phận người quen cũ trong hẻm, ai còn, ai mất, ai hạnh phúc, ai khổ đau.

Phố Bùi Viện đã thành phố Tây từ lâu. Cuộc sống cư dân của hẻm cũ cũng thay đổi nhiều theo trào lưu phục vụ công nghiệp du lịch. Nhưng thứ làm nên nỗi nhớ con hẻm trong tôi chính là sự ồn ào mà bình dị, là bổ bã nhưng nghĩa tình của con người lối xóm đối với nhau ở mảnh đất phương Nam này. Hẻm phố mà gợi nhớ hương vị làng quê quây quần. Là nơi có nhiều kỷ niệm một quãng đời thiếu phụ thanh xuân của tôi.

 

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT