LTS: Nhật báo Người Việt mở mục “Độc Giả Viết” nhằm mời gọi quý độc giả “cùng làm báo” với Người Việt, chia sẻ những rung cảm, ý tưởng, quan niệm, hồi ức, kiến thức, kinh nghiệm… về đời sống và xã hội. Để tham gia, quý độc giả vui lòng gởi email: [email protected].
Thi Le

Rằm Tháng Tám năm Đinh Hợi (1 Tháng Giêng, 1887), Nguyễn Duy Hiệu ra pháp trường đền nợ nước.
“Về chầu liệt thánh lòng son đấy
Tháng Tám trăng Rằm sẵn nguyệt đưa…”
Phó Bảng Nguyễn Duy Hiệu (1847-1887), lãnh tụ phong trào Cần Vương, Hội Chủ Nghĩa Hội Quảng Nam (1885-1887) đã ra pháp trường đền nợ nước vào ngày Rằm tháng Tám năm Đinh Hợi (1-10-1887). Ra đi, ông để lại một tấm gương chói ngời về lòng yêu nước và một sự nghiệp văn chương tuy khiêm tốn nhưng bất hủ trong lòng hậu thế.
Nguyễn Duy Hiệu là người thông minh học giỏi, đã được thụ giáo với những thầy giáo nổi tiếng hay chữ và mẫu mực sư phạm thời bấy giờ, đó là các cụ cử nhân Lê Tấn Toán, người làng Hà Lộc, phủ Điện Bàn (đỗ cử nhân năm 1861) và cụ phó bảng Nguyễn Đình Tựu, người làng Hội An, huyện Tiên Phước (đỗ cử nhân năm 1861, phó bảng năm 1868).
Ông được vua Tự Đức biết tiếng về tài văn chương và đức độ nên cử làm giảng tập ở Dưỡng Thiện đường để dạy cho các hoàng tử.
Thế nhưng, ông là con người của hành động chứ không phải là con người lý thuyết hay thi văn. Nếu sự nghiệp cách mạng của ông cao vời vợi, thì sự nghiệp văn chương của ông thật khiêm tốn.
Về mặt văn chương, nói đến Nguyễn Duy Hiệu người ta chỉ biết đến hai bài “Tuyệt Mệnh Thi” ông viết khi ra pháp trường ngày Rằm Tháng Tám năm Đinh Hợi (1/10/1887). Hai bài này được Huỳnh Thúc Kháng lần đầu tiên dịch và đăng trên báo Tiếng Dân trong mục Thi văn thời đại.
Bài 1:
“Cần Vương thệ dữ Bắc Nam đồng
Vô nại khuông tương lộ vị thông.
Vạn cổ cương thường vô Ngụy Tháo,
Bách niên tâm sự hữu Quan Công.
Thiên thư phận dĩ sơn hà định,
Địa thế sầu khan thảo mộc cùng.
Ký ngữ phù trầm tư thế giả,
Hưu tương thành bại luận anh hùng.”
Dịch:
“Cần Vương Nam Bắc kết tơ đồng,
Cứu giúp đường kia khổ chẳng thông.
Muôn thuở cương thường ai Ngụy Tháo?
Trăm năm tâm sự có Quan Công.
Non sông phần tự thơ trời định,
Cây cỏ buồn trông thấy đất cùng.
Nhắn bảo nỗi chìm ai đó tá?
Chớ đem thành bại luận anh hùng.”
Bài 2.
“Tây Nam vô địch xích đồng tri.
Tảo cập kim thời thế khả vi
Nhược thử giang phong vô áo viện
Hà nan trung đính thác cường di
Hàn sơn đắc kỷ cô tùng cán
Đại hạ yên năng nhất mộc chi
Hảo bả đan tâm triều liệt thánh
Trung Thu minh nguyệt bạn ngô qui.”
Dịch:
“Không địch Tây Nam biết đã thừa
Thời cơ như thế lẽ ngồi trơ
Nếu không mũi nịnh làm tay kiếm
Nào khó làm tung vác gậy bừa.
Núi tùng côi lạnh trơ hản thế.
Nhà nghiêng cột một khó ngăn ngừa
Về chầu liệt thánh lòng son đó
Tháng Tám trăng Rằm sẵn nguyệt đưa.”
Nguyễn Sinh Duy có bổ sung thêm hai câu đối và một bài thơ:(1)
Câu đối thứ nhất Nguyễn Duy Hiệu viếng Tán Hoán và cử Duật (Nguyễn Úynh, em ruột Hà Đình Nguyễn Thuật), hai nhân vật quan trọng của phong trào Nghĩa Hội, hy sinh tại Bình Sơn, Quảng Ngãi:
“Thời thế dị nan, thiên cổ chiến trường phi lục lục.
Anh hùng thành bại, bách ban tâm sự phú thương thương.”
Câu thứ hai, thực sự chỉ là một vế đối, nhân lễ khánh thành ngôi đình mới ở làng Đồng Tranh:
“Quân Gia Hội, thần Gia Hội, quân thần Gia Hội Phụng Hoàng trì,”
để đối lại vế đối của viên cử nhân của làng:
“Văn Đồng Tranh, võ Đồng Tranh, văn võ Đồng Tranh Long Hổ bảng.”
Còn bài thơ có nhan đề:
“Tân Tỉnh Cảm Tác”
Quan thành nhựt mộ thính suy già
Bạch phát thôi nhân cảm tuế hoa
Kỷ độ gian nan cam dữ quốc
Nhứt thân sanh tử bất tri gia
Giao long chỉ hận vô vân vũ
Hồng lạc hà thời khởi trảo nha
Mại kiếm mãi ngưu tàn Bột Hải
Na kham thiên mạng tảo trần sa.
Nguyễn Sinh Duy dịch:
Thành ải chiều hôm vắng tiếng kèn
Giục người tóc bạc tuổi trung niên
Gian nan mấy độ lòng lo trước
Sống chết thân đơn nhà ngã nghiêng
Chỉ hận may mưa rồng lỡ hội
Đành thu móng vuốt Hồng nằm yên
Hổ thay người Bột bán đao kiếm
Thiên chức dẹp loàn há chịu quên.
Lâm Quang Thự (2) cho rằng sau khi giải tán Nghĩa Hội, Nguyễn Duy Hiệu trốn về quê thọ tang mẹ rồi mới đem thân cho giặc bắt và có viết câu đối thờ mẹ:
“Làm bầy tôi mà vua nạn không phò, vua chạy không theo, khó đem nỗi bất bình mà kêu cùng tạo hóa.
Làm con trai mà mẹ đau không dưỡng, mẹ mất không chôn, chỉ biết lấy trường hận mà khóc công sinh thành.”
Nguyễn Sinh Duy (3) lại cho rằng câu đối này là do các văn thân làm thay ông. Thực hư không biết thế nào, nhưng như Nguyễn Duy Hiệu lẽ nào không khóc mẹ được một câu đối?
Đặc biệt, sử gia Phạm Văn Sơn có phát hiện thêm một bài viết của Nguyễn Duy Hiệu. Bài viết rất ngắn nhưng lại vô cùng quan trọng, vì là di ngôn gửi lại cho con trai trước lúc đi xa và thể hiện một chính kiến tuyệt vời của ông.
Phạm Văn Sơn cho biết khi ở trại Võ Lâm- Huế chờ ra pháp trường, Nguyễn Duy Hiệu có gửi cho con trai (khoảng 15-16 tuổi, cùng bị bắt và giải một cũi theo ông từ Quảng Nam ra Huế) một mảnh giấy với nội dung:
“Nếu may mà triều đình xử tử hình toàn gia chúng ta, thì chúng ta sẽ được gặp nhau hết nơi chín suối. Còn nếu không may, triều đình chỉ làm tội riêng cha, thì con chịu khó nuôi bà, dạy các em như lúc cha còn sống, không nên đeo đuổi cái học khoa cử, từ chương nữa, chỉ lầm mình, lầm nhà, lầm thiên hạ mà thôi.”(4).
Phải nghiền ngẫm bao nhiêu ngày, phải trải nghiệm bao nhiêu đắng cay, rút ra bao nhiêu bài học mới có thể thốt ra được lời khuyên, lời đánh giá như vậy?
Nên nhớ lời phát biểu chánh kiến này xảy ra vào Trung Thu năm 1887 cách ngày Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp viết “Chí thành thông thánh,” “Danh Sơn Lương Ngọc” hô hào bãi bỏ khoa cử đúng 18 năm (1905) và cách ngày cáo chung của khoa cử Nho học đúng 32 năm (1919). Nguyễn Duy Hiệu đã đi trước thời đại trên một phần tư thế kỷ!
Những năm cuối thế kỷ 19, Nho học và khoa cử vẫn còn rất thịnh. Nguyễn Duy Hiệu là người đã “hít thở,” “tắm gội” trong cái môi trường đó lại có thể bày tỏ một chính kiến đặc biệt như vậy.
Đây quả là một tầm nhìn thấu suốt thời đại, mang mầm mống cách mạng.
Văn chương của Nguyễn Duy Hiệu không phải là thứ văn chương thù tạc, vì thế chỉ cần một bài “Tuyệt Mệnh Thi” và mấy dòng ngắn ngủi trên một mảnh giấy nhỏ gửi cho con trước lúc đi xa, cũng đủ để trở thành bất hủ trong lòng hậu thế vì nó chứa trong đó cả một “trí tuệ” và một “tấm lòng” không phôi pha trước vận nước và dân tộc.
Đúng như lời Nguyễn Sinh Duy “Quảng Nam tự hào có một Nguyễn Duy Hiệu đầy đủ đảm lực và trí lực lo cho vận mệnh dân tộc giữa một thời kỳ đen tối nhất của lịch sử. Chớ đem thành bại mà luận anh hùng.” (5)
________
(1) Phong trào Nghĩa Hội Quảng Nam, Nxb Đà Nẵng, 1998, trang 290.
(2). Lâm Quang Thự-Người con đất Quảng, Nxb Đà Nẵng, 2005, trang 954.
(3) Nguyễn Sinh Duy, Sđd, trang 291
(4) Việt Nam cách mạng cận sử (1885-1914). Sài Gòn 1963, trang 184
(5) Nguyễn Duy Hiệu, những giờ khắc cuối tại trại Võ Lâm- Huế. Nghiên cứu Huế Tập 7-2010, trang 454.







