LTS: Nhật báo Người Việt mở mục “Độc Giả Viết” nhằm mời gọi quý độc giả “cùng làm báo” với Người Việt, chia sẻ những rung cảm, ý tưởng, quan niệm, hồi ức, kiến thức, kinh nghiệm… về đời sống và xã hội. Để tham gia, quý độc giả vui lòng gởi email: [email protected].
Đặng Ngọc Thanh Hải

Sáng Mùng Một Tết, ba thường là người dậy sớm nhất nhà. Sau khi dọn dẹp thân thanh tịnh, ba mặc áo tràng, lên lầu thắp nhang và thỉnh ba hồi chuông dài và ba tiếng kết báo hiệu cho toàn gia đình chuẩn bị bước vào ngày mới Nguyên Đán.
Cả nhà lần lượt thức dậy, nhẹ nhàng tẩy trần, chuẩn bị lên lầu chúc Tết ông bà nội. Nếu mạ là người quán xuyến việc cúng tất niên và đón Giao Thừa, thì bác Ấm là người chủ lễ trong ngày đầu năm mới.
Trong bộ áo tràng đã được giặt ủi thẳng thớm từ mấy hôm trước, bác ngồi nghiêm trang trước bàn thờ Phật, thoang thoảng mùi nhang, trầm, miệng lẩm nhẩm những lời cầu nguyện chư Phật gia hộ cho gia đình. Những lúc ấy, trông bác uy nghi, thoát tục làm tôi nhớ đến những lúc bác hầu đồng cầu mong Thánh Mẫu ban ơn lành.
Có một năm, một sự kiện hết sức đặc biệt xảy ra mà cho đến bây giờ tôi vẫn không biết phải giải thích thế nào, mà chỉ còn biết tin vào niềm tin tâm linh và đức nghiệp của dòng họ.
Sáng Mùng Một Tết năm ấy, bác đang ngồi trước bàn thờ Phật niệm kinh. Ba đang đứng thỉnh từng tiếng chuông theo nhịp niệm và xá mỗi lần kết thúc từng dòng kinh của bác. Tôi cũng lanh chanh tót lên lầu theo ba từ sớm. Bỗng dưng bác dừng tụng niệm, mặt bác bổng đỏ ửng lên rồi ngước nhìn ba. Bác nói, một tràng giọng đặt sệt Nam Bộ. Ba cúi xuống nghe rồi vội bảo tôi chạy ngay xuống mời mạ, má,me, mệ Sinh và các anh chị lên lầu ngay, “Bà nội về…”
Khi cả nhà lên, bác vẫn trong tình trạng phừng phừng như vậy. Mạ, má, me và mệ Sinh quỳ ngay sau lưng bác. Ba vẫn ở tư thế quỳ một chân và đở tay phải của bác, như lúc gọi bảo tôi xuống nhà mời mọi người lên. Các anh chị thì quỳ hai bên bàn thờ Phật.
Bác nói khe khẻ, vẫn giọng miền Nam trong và nhẹ. Cả nhà im lặng lắng nghe. Tôi ngồi khá xa, không nghe rõ bác đang nói gì với ba và mạ, chỉ nghe được mấy câu cuối: “… Lần này má về lần cuối. Các con ở lại nhớ thương yêu, đùm bọc nhau…” Giọng bác trầm xuống, rồi bác nấc lên. Ba nén nhang trên bàn thờ bỗng rực sáng lên một chốc rồi dịu lại như cũ.
Một lúc sau, bác lắc lắc đầu, tóc xổ tung ra và trở lại trạng thái bình thường. Hỏi ba bằng giọng Huế, chuyện gì vừa xảy ra.
Nghe ba kể xong, bác chớp chớp mắt, rươm rướm lệ và đứng dậy, thắp thêm một tuần nhang. Cả nhà vái Phật và quay vào bàn thờ ông bà nội. Ba cây nhang trên bàn thờ đang rung rung, tàn nhang uốn cong thành vòng tròn.
Đó là lần đầu tiên, nhưng không phải là lần duy nhất tôi tận tai nghe tiếng người đã khuất nói chuyện bằng thứ khẩu ngữ đặt sệt địa phương qua miệng một người dương thế nói thuần một thứ tiếng địa phương khác. Ấn tượng ấy sâu sắc đến độ cho tận đến bây giờ, mỗi lần có việc gì khó khăn, anh em chúng tôi đều lên thắp nhang trên bàn thờ và cầu mong bà nội phù hộ cho anh em tôi tai qua nạn khỏi.
Sau lễ Phật là lễ chúc Tết ông bà và những người đã khuất. Mỗi người trong gia đình đều tự mình đứng trang nghiêm trước bàn thờ ông bà nội, thành tâm sám hối những gì sai trái đã làm trong năm cũ, tỏ bày ước nguyện trong năm mới và niệm câu chúc tết ông bà cùng những người đã khuất. Sau đó, cùng lũ lượt kéo xuống lầu chuẩn bị lễ chúc thọ cho người lớn và mừng tuổi cho con cháu.
Lễ chúc thọ và mừng tuổi thường được tổ chức ở gian liên kết giữa dãy nhà mặt tiền và khu nhà thờ họ. Trên bộ phảng gỗ bốn tấm đã được trải tấm chiếu dày (mỗi tấm chừng 40 cm – tôi vẫn nhớ một trong bốn tấm này có một vết lõm do bị cháy vì độ nóng của bàn ủi than con gà) kê sát tường quay vào cửa giữa vào gian thờ, bác Ấm ngồi ở giữa, mạ ngồi bên trái Bác, gần cửa sổ nhìn ra vườn bông. Bên phải lần lượt là má, me, mệ Sinh ngồi thành hình cung. Ba ngồi ở mép ngoài góc phải.
Những năm có cậu Đội hay cậu Giám đến xông đất, thì các cậu ngồi ở mép trái cạnh cửa sổ. Giữa tấm phảng là một khay trầu rượu vuông, đỏ, chừng bốn, năm mươi phần, có nắp đậy khảm xa cừ rất đẹp, chỉ được mang ra dùng trong các dịp lễ tết. Khay trầu rượu được chia làm bốn ngăn. Một ngăn đựng một hộp tròn cao chừng hơn 10 cm, có một khay nhỏ dày chừng 3-4 cm lọt trong hộp, thường được đựng hai trái cau bổ sáu hoặc bổ tám và mươi miếng trầu cánh phượng đã được têm vôi sẵn. Một ngăn đựng một khay hình lục giác bằng đồng, có lót miếng nĩ đỏ, trên đó có hai chung rượu. Một ngăn đựng một bầu rượu trắng (hình như sau này các anh có sáng kiến thay bằng rượu vang đỏ để bác, mạ, má, me, mệ Sinh dễ uống hơn). Một ngăn để trống. Ngoài ra, còn có một khay trà sen thơm lựng với một hai bộ chén, một dĩa bánh (thường là bánh hạt sen ướt hoặc bánh thuẩn Mạ chỉ đạo làm), một dĩa mứt và một vài thứ linh tinh như nĩa, khăn…
Phía bên cửa chính vào gian thờ, anh chị em chúng tôi xếp hàng theo thứ bậc lớn nhỏ. Những anh chị lớn đã có gia đình đứng dưới cùng, bên phải (của chúng tôi), gần cửa ra vườn bông. Những anh chị lớn nhưng chưa có gia đình, đứng ở tam cấp cao nhất. Đang còn thiếu niên như tôi đứng ở bậc thứ hai, bé hơn đứng ở bậc thứ nhất. Những năm đông con cháu thì các anh lớn đứng ở sàn nhà sát cửa chính, và vị trí tịnh tiến lên để các cháu ‘lít nhít’ thì đứng ở bậc cấp thấp nhất.
Sau khi đã yên vị, bác Ấm thay mặt bậc trưởng thượng giáo huấn mấy lời, nhắc nhở anh em chúng tôi phải hòa thuận, trên kính, dưới nhường. Một anh lớn, thay mặt con cháu chúc thọ các bác, các chú, các thím và hứa hẹn sẽ luôn giữ gìn riềng mối tôn ti trật tự của gia đình. Sau đó rót rượu, trà mời các bậc trưởng thượng thưởng lãm. Lần lượt bác Ấm, mạ, ba, má, me, mệ Sinh, các anh chị lớn đã có gia đình lấy ra xấp tiền mới, bỏ vào ngăn trống trên khay trầu rượu.
Một anh lớn nhất (nhiều năm là anh Vịnh hoặc anh Hồ, sau này là anh Do – dù những năm ấy anh Vịnh chưa lập gia đình, nhưng đã có danh phận là giáo sư, lại làm giám học nên “được” tham gia vào những bậc trưởng thượng góp tiền mừng tuổi cho các em, các cháu) thay mặt con cháu xin nhận xấp tiền mừng tuổi. Số tiền này sau đó được chia đều với số chia là tổng số tuổi của đám con cháu có mặt hôm đó và mỗi cháu được nhận số tiền đúng bằng số tuổi nhân cho thương. Số dư thường được ưu tiên cho “anh lớn đại diện.” Việc chia tiền mừng tuổi công khai với quan điểm rất rõ ràng là ai lớn tuổi hơn phải chi tiêu nhiều hơn, nên được chia nhiều hơn và hầu như không hề xảy ra sự so bì hay khiếu nại nào.
Lễ chúc thọ và mừng tuổi thường kết thúc vào khoảng 9 giờ sáng, sau đó cả nhà lên Nam Giao thăm mộ, ghé vào Tường Vân làm cúng tổ (nhà mình quy y ở chùa Tường Vân) và lên chùa Trà Am. Thường thì bác, mạ, má đi xích lô của cụ Lội (?) và anh Lụt (con trai cụ Lội?), hoặc anh con trai cụ Lỳ (tôi quên tên) ở bờ hồ. Ba thường đạp cái xe đạp dàn của mình chở theo tôi hoặc chị Nhã hay Nhàn. Các anh lớn có xe máy thì đi xe máy. Những người khác trong nhà thì đi xe lam do nhà thuê (hình như của anh Hiến con cậu Giám Cơ?). Me và mệ Sinh và các chị với o Sen thường ở nhà dọn dẹp và chuẩn bị cúng ngọ và bữa ăn trưa. Những năm 1966-1968 rạp hát sáng đèn trở lại nên Mạ thường ở nhà để bán vé cho xuất hát buổi trưa.
Những ngày Tết, lên Trà Am là một dịp tuyệt vời để anh em chúng tôi tha hồ tổ chức cho lũ búp bê chia phe đánh nhau: phe chính đạo là cư dân họ Đặng Trần (do anh Phước chỉ huy), phe tà đạo là nhóm anh em Ma Thành Khí, Ma Thành Giới (do tôi chỉ huy). Dòng suối Trà Am đã bị anh em tôi khuấy đục ngầu lên và khi các anh chị tìm được để gọi về thì quần áo anh tôi đã ướt sũng. (nhưng thôi, chuyện ấy tôi sẽ kể sau trong những ký ức tuổi thơ của mình).
Truyền thống tốt đẹp này nay không còn nữa. Và tôi cũng không nhớ là đã kết thúc từ bao giờ, có lẽ từ khi từng gia đình đã chuyển sang không gian riêng với ba số nhà 101, 101A, 101B vào đầu thập niên 1970. Nhưng chắc chắc là biến cố Mậu Thân đã có nhiều tác động và không chỉ gây tang thương cho nhiều gia đình Huế, mà còn làm sụp đổ nhiều truyền thống tốt đẹp.
Thuở còn trẻ, tôi vẫn thường tự hỏi: “Làm thế nào mà một đại gia đình tứ đại đồng đường, với nhiều nhánh, không chỉ bên nội mà có khi cả bên ngoại – một thời gian dài gia đình chị Vân, chị Tứ cũng ở chung trong nhà – có thể sống chung trong một căn nhà mà rất hiếm khi có chuyện to tiếng xảy ra?”
Cho đến nay, ở tuổi “nhi nhĩ thuận” tôi mới nghiệm ra rằng gia đình Đặng Ngọc không chỉ theo khuôn mẫu tôn ti trật tự của Nho Giáo phương Đông như nhiều danh gia vọng tộc khác ở cố đô, mà còn chịu ảnh hưởng khá sâu đậm của quan điểm công bằng, bác ái, tự do dân chủ của nền văn hóa phương Tây, trong đó mỗi người đều có tự do riêng, nhưng cũng luôn luôn tôn trọng cái chung của gia đình, trong đó không phân biệt con trai hay con dâu, ai cũng có được phân công để làm một việc gì đó cho gia đình và đều tự giác làm tròn nhiệm vụ của mình, trong đó mọi người thực sự quý mến, thương yêu nhau.































































































































































