Mai Phi Long/Người Việt (tổng hợp)
WASHINGTON, DC (NV) – Giáo Sư Kevin Kruse của đại học Princeton University nhận xét rằng trong đời sống chính trị Mỹ, việc chụp mũ “Socialism” (chủ nghĩa xã hội) hay “Communism” (chủ nghĩa cộng sản) từ lâu trở thành một công cụ tuyên truyền gây sợ hãi (red-baiting) được đảng Cộng Hòa và các chính khách bảo thủ sử dụng thường xuyên.
Trong bài viết “Những người Cộng Hòa có lịch sử vũ khí hóa chữ ‘Socialism,’ nhưng liệu họ có hiểu đó là gì chăng?” đăng trên NBC News, vị giáo sư ghi nhận việc chụp mũ này là chiêu thức để cắt giảm hoặc bãi bỏ các chương trình an sinh xã hội, y tế, và hỗ trợ cộng đồng.

Nhưng tất cả những chính sách từng bị lên án là “chủ nghĩa xã hội” nguy hiểm lại trở thành những trụ cột của đời sống kinh tế, chính trị của nước Mỹ, theo Giáo Sư Kruse.
Lịch sử của “Ông Kẹ Socialism”
Mỗi khi phe bảo thủ tại Mỹ cạn kiệt luận điểm kinh tế để bảo vệ lợi ích của tầng lớp siêu giàu, họ lại rút ra một thứ vũ khí cũ kỹ, bám đầy bụi mờ lịch sử: Cái mũ “chủ nghĩa xã hội.”
Trò chụp mũ này không mới, ngay từ năm 1952, Tổng Thống Harry Truman vạch mặt “Ông Kẹ Socialism” chỉ là một từ ngữ gây sợ hãi (scare word) mà đảng Cộng Hòa ném vào bất kỳ sự tiến bộ nào mà người dân Mỹ đạt được. “Socialism,” theo lời ông Truman, chính là tên gọi mà phe bảo thủ đặt cho “bất kỳ điều gì có giúp đỡ tất cả dân chúng.”
Để chứng minh lập luận của mình, ông Truman liệt kê hàng loạt chương trình cứu nước Mỹ khỏi cuộc Đại Khủng Hoảng thuộc chính sách New Deal, gồm Quỹ An Sinh Xã Hội (Social Security), Cơ Quan Bảo Hiểm Tiền Gửi Liên Bang (FDIC), chương trình trợ giá nông sản, điện lực công cộng, và quyền lao động. Tất cả những chính sách này từng bị giới bảo thủ lên án là “chủ nghĩa xã hội đang len lỏi.”
Ông Truman nói: “Chủ nghĩa xã hội là cái ‘ông kẹ’ họ dùng cho hầu như bất cứ điều gì giúp ích cho toàn thể người dân Mỹ.”
Trò chụp mũ này trở thành một trò chính trị khôi hài đến mức khi vaccine chống bại liệt được Khoa Học Gia Jonas Salk bào chế năm 1955 và đảng Dân Chủ đề nghị thành lập một chương trình cấp liên bang để chích ngừa cho toàn bộ trẻ em Mỹ. Đảng Cộng Hòa vội chụp mũ đây là kế hoạch “Socialism” với câu nói nổi tiếng của bà Oveta Culp Hobby, một triệu phú Texas và là Bộ Trưởng Y Tế trong chính quyền Tổng Thống Dwight Eisenhower, người phản đối kế hoạch này: “Đó là nền y tế bị chủ nghĩa xã hội hóa thâm nhập bằng cửa sau, chứ không phải cửa trước.”
New Deal và Great Society: Các “Ông Kẹ Socialism” cứu nước Mỹ ra khỏi Đại Khủng Hoảng và đói nghèo
New Deal của Tổng Thống Franklin Roosevelt và Great Society của Tổng Thống Lyndon Johnson là hai chính sách mở rộng vai trò xã hội của chính phủ liên bang lớn nhất trong lịch sử hiện đại của Mỹ.
Hai chính sách này thường bị giới bảo thủ gọi là “xã hội chủ nghĩa,” “tập thể hóa,” hoặc thậm chí “cộng sản.” Tuy nhiên, hai chính sách này đều không xóa bỏ quyền sở hữu tư nhân, không quốc hữu hóa toàn bộ nền kinh tế và không thay thế thị trường bằng chế độ kế hoạch hóa. Chính xác hơn, đây là quá trình biến Mỹ thành một nền kinh tế tư bản có điều tiết và có hệ thống an sinh xã hội.
New Deal và những chương trình vẫn bảo vệ người Mỹ đến hôm nay
Khi Tổng Thống Franklin Roosevelt (Dân Chủ) nhậm chức năm 1933, nước Mỹ đang chìm trong Đại Khủng Hoảng. Gần 25% lực lượng lao động thất nghiệp, hàng ngàn ngân hàng đóng cửa, người dân mất tiền tiết kiệm, nông dân mất đất, và doanh nghiệp phá sản. New Deal được xây dựng với ba mục tiêu: Cứu trợ người dân, phục hồi kinh tế, và cải tổ hệ thống ngân hàng để ngăn khủng hoảng tái diễn.
Một số chương trình tạo việc làm khẩn cấp như FERA, WPA, và CCC đã chấm dứt sau khi nền kinh tế phục hồi. Tuy nhiên, nhiều định chế quan trọng của New Deal vẫn tồn tại và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người Mỹ đến ngày nay.
FDIC tiếp tục bảo hiểm tiền ký thác ngân hàng, giúp người dân không mất trắng khoản tiết kiệm trong giới hạn được bảo hiểm khi ngân hàng phá sản. SEC vẫn giám sát thị trường chứng khoán, yêu cầu công ty công bố thông tin và chống gian lận tài chính.
FHA tiếp tục bảo hiểm các khoản vay mua nhà, giúp nhiều gia đình có thể vay dài hạn với điều kiện thuận lợi hơn.
Đặc biệt, chương trình An Sinh Xã Hội ra đời năm 1935, vẫn cung cấp lợi tức hưu trí, trợ cấp cho người khuyết tật và gia đình của người lao động qua đời và hệ thống bảo hiểm thất nghiệp cũng bắt nguồn từ New Deal, giúp người mất việc có lợi tức tạm thời trong lúc tìm việc mới.
Wagner Act đặt nền móng cho quyền thành lập nghiệp đoàn và thương lượng tập thể.
Fair Labor Standards Act vẫn là nền tảng của lương tối thiểu liên bang, tuần làm việc 40 giờ, tiền làm thêm giờ, và giới hạn lao động trẻ em.
New Deal không xóa bỏ chủ nghĩa tư bản. Những chương trình còn tồn tại cho thấy chính phủ có thể bảo vệ tiền tiết kiệm, tuổi già, việc làm, và quyền lao động, đồng thời giúp nền kinh tế thị trường ổn định hơn.
Great Society: Quốc gia giàu có không có nghĩa toàn thể dân chúng được no ấm
Ba thập niên sau, Tổng Thống Lyndon Johnson (Dân Chủ) đối diện một nghịch lý khác. Mỹ trở thành cường quốc giàu mạnh, nhưng hàng triệu người vẫn nghèo, người cao niên khó mua bảo hiểm sức khỏe, trẻ em ở khu nghèo học trong những trường thiếu thốn, còn người da đen vẫn bị ngăn cản trong bầu cử, nhà ở, việc làm, và giáo dục.
Chính sách Great Society không được thiết kế để cứu một nền kinh tế đang sụp đổ như New Deal nhưng để giải quyết câu hỏi khác: Một quốc gia giàu có để làm gì nếu người già vẫn không được chữa bệnh và một đứa trẻ nghèo không thể vào đại học?
Chính sách của Tổng Thống Johnson thành lập các chương trình như Medicare cung cấp bảo hiểm cho người cao niên, Medicaid giúp người có lợi tức thấp. Trước khi hai chương trình được ký thành luật năm 1965, chỉ khoảng một trong tám người cao niên có bảo hiểm y tế và các hãng bảo hiểm tư nhân xem họ là nhóm rủi ro quá cao.
Ngoài ra, chính sách Great Society còn lập chương trình giáo dục Head Start, hỗ trợ bảo đảm quyền đi học cho trẻ em gia đình nghèo, trợ giúp thực phẩm, đào tạo nghề, hỗ trợ trường học nghèo, luật dân quyền, và Higher Education Act năm 1965. Đạo luật giáo dục đại học mở rộng học bổng, khoản vay lãi suất thấp và nguồn trợ giúp liên bang, đặt nền móng cho hệ thống tài chính giáo dục mà nhiều thế hệ di dân sau này sử dụng.
Từ năm 1959 đến 1966, tỉ lệ nghèo tại Mỹ giảm từ 22% xuống 15%. Tuy không thể trao toàn bộ thành quả cho Tổng Thống Johnson vì tăng trưởng kinh tế và việc làm cũng đóng vai trò lớn nhưng các chương trình y tế, giáo dục, thực phẩm, và chống nghèo của ông biến sự thịnh vượng quốc gia thành cơ hội cụ thể cho người dân.
Căn bản khác biệt thể chế
Khi chơi trò chụp mũ “Socialism” hoặc Cộng Sản, những người tuyên truyền đều vờ đi sự thật cốt lõi là thể chế nước Mỹ không hề thay đổi dù dưới sự lãnh đạo của Dân Chủ hay Cộng Hòa ở Tòa Bạch Ốc hoặc trong Quốc Hội.
Sự giả dối lớn nhất của chiến thuật chụp mũ hiện nay nằm ở chỗ: Họ cố tình cào bằng sự can thiệp an sinh trong nền kinh tế thị trường với các thể chế độc tài tập trung.
Chủ nghĩa Cộng Sản hay kinh tế kế hoạch hóa tập trung là nơi nhà nước xóa bỏ hoàn toàn quyền sở hữu tư nhân, quốc hữu hóa mọi nhà máy, đất đai, và áp đặt giá cả.
Còn những chính sách “Ông Kẹ Socialism” được người Cấp Tiến tại Mỹ hay các quốc gia Tây Âu và Bắc Âu đang áp dụng là gì?
Đó là Chủ Nghĩa Tư Bản Phúc Lợi (Welfare Capitalism) với nền tảng bảo vệ tuyệt đối quyền sở hữu tư nhân và thị trường tự do, chỉ yêu cầu những tập đoàn siêu giàu và giới tỷ phú trả đúng phần thuế công bằng của họ để đầu tư ngược lại cho giáo dục, y tế, và hạ tầng.
Chính sách này tạo ra một “tấm lưới an toàn” để người lao động khi ốm đau, thất nghiệp hay về già không bị gạt ra bên ngoài lề xã hội.
Các nước Bắc Âu như Đan Mạch, Thụy Điển, hay Na Uy, những nơi áp dụng hệ thống an sinh xã hội sâu rộng nhất, luôn đứng đầu thế giới về chỉ số hạnh phúc, mức sống, và thậm chí là chỉ số tự do kinh doanh. Không một ai ở đó bị tước đoạt tài sản. Không một ai ở đó sống dưới chế độ độc tài.
Vậy tại sao đảng Cộng Hòa vẫn tiếp tục chơi chiêu “Ông Kẹ Socialism?”
Bởi vì chụp mũ là cách dễ nhất để tránh phải giải thích. Rất khó để một chính khách bảo thủ đứng trước cử tri và nói: “Tôi muốn cắt giảm trợ cấp y tế của con cái quý vị, tôi muốn giảm tiền hưu trí của cha mẹ quý vị để giảm thuế cho các tập đoàn dầu khí và ngân hàng.”
Thay vào đó, họ hô to: “Đó là Chủ Nghĩa Xã Hội! Đất nước sắp rơi vào tay Cộng Sản!”
Đó không phải là sự lo lắng cho tự do của nước Mỹ mà là sự “bóc lột ngôn từ” để bù lại ngân sách thiếu hụt vì giảm thuế cho giới giàu có và đại công ty qua việc cắt giảm ngân sách an sinh, đẩy cái giá của y tế và giáo dục lên vai người dân Mỹ bình thường.
An sinh xã hội không phải là chủ nghĩa xã hội mà là sự nhân văn tối thiểu của một quốc gia tư bản giàu có nhất thế giới. Và đã đến lúc người dân Mỹ ngừng sợ hãi trước một bóng ma lịch sử do những kẻ cơ hội chính trị dựng lên.
Người Việt chạy khỏi một chế độ độc tài chính trị, chứ không phải chạy khỏi ý tưởng rằng người già cần bác sĩ, trẻ nghèo cần trường học, và người tị nạn cần các chính sách nâng đỡ trong những ngày đầu tiên.
Không ai buộc cử tri phải ủng hộ mọi chương trình an sinh. Nhưng trước khi bỏ phiếu vì nghe chữ “Socialism,” hãy hỏi: Chính sách này có xóa bầu cử và quyền tư hữu không, hay chỉ dùng tiền thuế để giải quyết một nhu cầu chung? Chính sách này có thật sự thất bại không, hay người ta chỉ muốn chúng ta sợ nó?
Chạy khỏi Cộng Sản là bảo vệ tự do. Nhưng đừng để người khác lợi dụng ký ức ấy để khiến chúng ta tự tay cắt bỏ những quyền lợi đã giúp chính gia đình mình xây lại cuộc đời trên quê hương mới. [đ.d.]































































































































































