LTS: Nhật báo Người Việt mở mục ‘Bạn đọc viết’ nhằm mời gọi quý thân hữu ‘cùng làm báo’ với Người Việt, chia sẻ những rung cảm, ý tưởng, quan niệm, hồi ức, kiến thức, kinh nghiệm,… về đời sống và xã hội. Để tham gia, quý bạn đọc vui lòng gởi email: [email protected]
Đỗ Danh Ngọc

1-Ký ức xưa
Ngày xửa ngày xưa. Đó là những lời bắt đầu cho một câu chuyện cổ tích. Tôi rất thích những câu chuyện cổ tích bởi vì nó kết thúc rất trọn vẹn tốt đẹp…
Trong các anh em bên dòng họ ngoại tôi quý nhất là anh Thẹp.
Anh lớn hơn tôi hai tuổi nhưng chỉ học hơn tôi một lớp. Có nghĩa là anh đã học trễ một năm. Sau mùa hè đỏ lửa 1972, Đất Đỏ là vùng xôi đậu, ban ngày lính Quốc Gia kiểm soát ban đêm du kích Việt Cộng ruồng bố khắp xóm làng. Bạn bè của anh nhiều người đã ngã theo Cộng Sản.
Anh mồ côi cha từ nhỏ, cho nên hầu hết các công việc đồng áng nương rẫy đều do một bàn tay anh chăm sóc. Nhưng đó là những ngày còn niên thiếu, đến khi trí khôn bắt đầu rộng mở thì Vú- người mẹ của anh không dám cho anh theo vào ruộng bưng canh tác mà mỗi đêm phải lên nhà thương Đất Đỏ, cạnh tiểu khu quận để tránh những rủi ro có thể xảy ra khi mấy ổng về tuyên truyền và thu thuế.
Cũng tại nhà thương quận Đất Đỏ mà anh đã làm nhịp cầu se duyên giữa hai người dì họ cùng một người bạn học và anh y tá trưởng của bệnh viện quận.
Dì hai có ba người con trai, do tình trạng ở dưới quê cho nên anh nào cũng học trễ một năm. Mùa Hè 1972, một cọc mốc lịch sử của miền Nam Việt Nam. Sau cuộc tổng động viên lần thứ nhất Xuân 1968, thì năm này là tổng động viên lần thứ hai.
Đầu năm 1972, để có tiếng vang tại Hòa Đàm Paris, gây áp lực cho nước Mỹ bắt buộc chính quyền Việt Nam Cộng Hoà phải đặc bút ký hiệp định mà có những điều khoản rất bất lợi và nhượng bộ cho Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam. Quân Cộng Sản đã vượt vỉ tuyến đồng loạt tấn công vào vùng phi quân sự và vây hãm An Lộc cũng như Cổ thành Quảng Trị.
“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách,” người anh đầu của anh xếp vội bút nghiên, khoát màu áo xanh của lính, theo lệnh tổng động viên tòng quân nhập ngũ. Anh hai chọn một đơn vị kiêu hùng mà sau này bên thắng cuộc gọi là: Lính thủy đánh bộ.
“THỦY táng xin đừng liệm xác tôi
QUÂN hàm vai áo sẽ tan trôi
LỤC tìm trang sử thời oanh liệt
CHIẾN tích cờ bay rực sáng ngời.”
(HND)
Rồi hai năm sau, tới phiên mình. Anh Thẹp gởi gắm Vú cho thằng em Út để thực hiện nhiệm vụ công dân. Nhờ một người cậu ở Cần Thơ, anh đắc ý ngâm:
“Lấy không gian làm đường đi vạn lối
Mượn con tàu thay kiếp sống phiêu lưu.”
(Khuyết danh)
Đầu năm 1974, tôi hội ngộ cùng anh ở thành phố Tây Đô và được biết rằng anh sẵn sàng tình nguyện vào khóa Hạ Sĩ Quan Không Quân tại phi trường Trà Nóc, Cần Thơ.
Hai tâm hồn cô đơn, không cha mẹ anh em bên cạnh nên tình thân càng ngày còn hơn là ruột thịt.
Cả anh và tôi, lần đầu biết thưởng thức hương vị cà phê đèn mờ cạnh bến Ninh Kiều, để lắng nghe giọng ca da diết của Lệ Thu, Khánh Ly qua những tình khúc phản chiến ủy mị, những bản tình ca của tuổi học trò, của áo trắng mộng mơ, của thời mới lớn.
Giọng nói chân thật và mộc mạc của anh đã đưa tôi vào những ngày xưa thân ái, từ những cơn mưa đầu mùa bên luống mạ non, bên cánh diều tuổi thơ mà bây giờ chỉ còn là dĩ vãng.
-Hằng đêm, anh nghe tiếng pháo vọng về, trên bầu trời cao, ánh hỏa châu sáng rực một góc và từng hàng đạn lửa xen kẽ vào nhau. Chiến tranh bao trùm sôi sục từ thành thị cho đến thôn quê rồi dân ơi! Trước sau gì cũng phải đi lính. Anh may mắn nhờ cậu sáu, nên có cơ hội “quỳ dưới cánh Đại bàng để nhận lấy không gian làm Tổ Quốc cho riêng mình.”
-Em hãy cố gắng học để được tờ giấy hoãn dịch hợp lệ nha em. Đừng như anh, vội bỏ đời sống dân sự, bỏ mái ấm gia đình, bỏ trường lớp với thầy cô bè bạn và nhất là bỏ cả mảnh tình chưa kịp vắt vai.
Anh thầm thì tâm sự…
Tánh tình của anh là thế, chân thành và yêu thương. Tạo niềm vui cho người, hy sinh giúp người không vụ lợi. Đức tính tốt này tôi đã rán học từ anh.
Trong gia đình anh là người chịu nhiều thiệt thòi nhất, trái ngược với người anh đầu; người có cuộc sống nội tâm, vui buồn ít lộ ra nét ngoài, lại là người con người anh có hiếu nhất trong ba anh em, thường xuyên đi chùa và nổi bật là không bao giờ làm mích lòng ai, kể cả một đứa con nít. (Trích đọc Một chuyện tình thời hậu chiến).
Lương lính ba cọc ba đồng, thế mà anh thường dúi tiền vào tay tôi trong những ngày đầu tháng. Thật sự lúc đó tôi giàu hơn anh nhiều, vì mỗi buổi sáng thức sớm đi lấy bánh mì bỏ mối cho câu lạc bộ. Tôi không nhận tiền của anh, mà gợi ý để anh mua măng đa gởi về cho dì hai phụ giúp người em út đang học tại Đất Đỏ.
Cuối năm 1974, anh tốt nghiệp khóa Hạ Sĩ Quan Không Quân thuộc loại khá, nên được ưu tiên thuyên chuyển.
Lúc này chiến cuộc bắt đầu xôi động, đầu năm 1975 tỉnh Phước Long đã bị mất về quân đội Cộng Sản, phong trào chính phủ ba thành phần vang dội khắp Miền Nam. Người anh Thủy Quân Lục Chiến đang đóng ở Huế. Vú và thằng em út vẫn còn bám trụ tại vùng xôi đậu Đất Đỏ nên anh đành rời bỏ Cần Thơ mà về gần nguyên quán vậy.
Ngày anh từ giã Cần Thơ nhận nhiệm sở mới tại phi trường Biên Hòa thuộc Sư Đoàn 3 Không Quân, theo nguyện vọng gần nhà. Hành trang của anh mang theo là cả một bầu tâm sự trong quân đội, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng ra đơn vị:
“Bóng thời gian vội vã mau
Vẫn mãi luyến tiếc những màu ngày xưa
Biết bao thương nhớ cho vừa
Bạn bè ơi! Kỷ niệm xưa một đời.
Nhớ những lúc một thời tinh nghịch
Tiếng ve sầu rã rích vang rền
Vi vu làn gió thổi êm
Lá me rơi rụng bên thềm bơ vơ.
Chiều nhạc nắng ngẩn ngơ kỷ niệm
Tuổi Ô mai chưa vẹn yêu đương
Lá vàng Thu rụng ven đường
Mới mười mấy tuổi đã thương đã sầu.
Đã cảm nhận tình sâu của gió
Vẽ tuyệt vời nắng mới thiên nhiên
Của không khí mát dịu hiền
Để rồi vở mộng triền miên một đời.
Chỉ bằng hai chữ
Để rồi
Quê hương,
Chiến cuộc,
Mím môi đắng lòng
Hôm nay nước đã ngược dòng.
Bến xưa,
Đò cũ,
Rêu phong phủ đầy
Kỷ niệm xưa
Ký ức này
Chỉ đành lưu luyến đưa tay vẫy chào!”
(HND)
Tin chiến sự càng ngày càng bất lợi cho phía VNCH. Miền Trung di tản, rồi Huế, Đà Nẵng bỏ ngỏ và cho đến khi trận chiến ở Phan rang diễn ra. Tin tức từ đài BBC hay đài VOA đưa ra đều làm anh chán nản tột cùng. Đúng là bất chiến tự nhiên thành cho phía miền Bắc Việt Nam.
Anh rời quân ngũ sau ngày phi trường Biên Hoà đóng cửa. Chạy ngược theo quốc lộ 15 về đến nhà ôm vùi thằng em út và vú, vừa khóc vừa nhắc nhở đến người anh trai Thủy Quân Lục Chiến không biết còn sống hay tử nạn trên đường lui binh. Thật là phước đức của ông bà để lại, chỉ vài ngày sau anh em cùng đoàn tụ.
Tối 26 Tháng Tư, 1975, súng nổ vang rền trên bầu trời Bà Rịa Đất Đỏ. Những trái sáng thả trong đêm nhiều vô kể, anh nhìn thấy đạn phòng không đan chéo vào nhau, những hàng tên lửa bắn tua tủa ngập trời.
Và cuối cùng Ngày 30 Tháng Tư cũng đã đến:
“Tháng tư đến vạn người vui hồ hởi
Tháng tư về triệu người buồn tái tê
Tôi nhớ mãi những ngày tháng ê chề
Dù cuộc chiến âm thầm chôn thắm thiết.
Tháng tư đến thuyền ra khơi từ biệt
Tháng tư về quê mẹ vẫn nghèo xơ
Lúc ra đi là phản quốc tội đồ
Ngày trở lại thành việt kiều khế ngọt.
Tháng tư đến một khúc quanh bất chợt
Tháng tư về vết khắc vẫn trên vaiN
gười thân thương đi cải tạo lưu đày
Cùng số phận kẻ về kinh tế mới.
Tháng tư đến một nỗi buồn chờ đợi
Tháng tư về biểu ngữ để khắp nơi
“Thằng trời đi chỗ khác chơi
Để cho nông hội đắp bờ làm nương.
Tháng tư đến người tha hương, tù tội
Tháng tư về lệ đắng nổi chứa chan
Niềm riêng viễn xứ cưu mang
Làm sao quên được cờ vàng tháng tư…”
(HND).
Lời kêu gọi của chính quyền mới: “Không có người Việt Nam nào là kẻ chiến thắng hay kẻ chiến bại, chỉ có bọn đế quốc Mỹ là người bị đánh bại mà thôi.” Chúng ta hãy hòa hợp, hòa giải dân tộc. Khép lại đau thương, xóa bỏ hận thù, gầy dựng lại quê hương.
Cũng vì những lời này mà hai anh em đã hưởng ứng nhiệt liệt.
Trong những buổi học tập, cả hai anh em đều là đích nhắm của cán bộ. Cái câu hai thằng ngụy ác ôn đã được biết từ đó. Những rắc rối, đau khổ và tủi nhục chỉ được giải tỏa sau khi được một người bạn đã nhảy núi đi theo Cộng Sản từ nhỏ đến thăm và an ủi.
2-Tình đẹp như mây
Năm 1977 tôi về lại Đất Đỏ làm ruộng. Thời gian này anh mở một quán nhỏ bên cạnh nhà, sửa xe đạp. Sau đó dọn ra phía ngoài chợ và hướng dẫn tôi học nghề bơm vá sơn sửa. Từ căn nhà này, anh và tôi đã se duyên cho người dì họ chủ nhà với một người cháu vợ của cậu sáu tại Long Tân.
Lúc này cậu đã đi học tập cải tạo, mợ bương chải làm nương rẫy nuôi một đàn con bốn đứa.
Sức đàn bà chân yếu tay mềm trong căn lều mưa dột tứ bề. Anh và tôi góp sức làm nhà giúp mợ và các em.
Buổi sáng hai anh em đang chuẩn bị công việc, thấp thoáng từ xa bóng hai cô thôn nữ ẩn hiện trong sớm sương mai. Anh ngẩn ngơ nhìn rồi bất ngờ ngâm một câu Kiều:
“Người ơi gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không?”
Cô chị đã đi vào hồn của anh rồi, một nụ cười duyên, một cái cúi đầu e lệ che khuất bên vành nón lá và bước chân ngượng ngùng khi ngang qua căn nhà đang dựng dở dang.
Mợ sáu như đoán trước được sự suy nghĩ trong đầu anh, nên cười tủm tỉm nói:
-Nó tên là Mây, muốn làm quen thì mợ giới thiệu cho. Cháu với nó hai đứa thiệt là xứng đôi đó nghen.
“Ô kìa!
Vầng mây bốn phương trời
Bềnh bồng bay bỗng chơi vơi giữa đời
Mây ngàn gió lộng thành đôi
Núi, trăng một nhịp tuyệt vời sắc son
Trăng già bên cạnh núi non
Mây xanh, nước biếc tủi hờn tình say
“Gửi gió cho mây ngàn bay
Một đời phiêu lãng đắm say một đời.”
(HND)
Buổi chiều, mợ Sáu như cố ý, khi thấy hai chị em đi ruộng về, đon đả ra tận ngõ nắm tay kéo vào nhà:
-Mây, vô uống miếng nước, cho dì hỏi thăm một chút.
Hai chị em cô Mây chần chừ, đặc đôi thúng xuống đất rồi bước chân vào nhà.
-Dạ thưa dì, có chuyện gì nhờ con. Cô chị thỏ thẻ trả lời còn cô em thì cúi gầm mặt, tay vân vê tà áo.
Một giọng nói ngọt ngào, ấm áp mà lần đầu anh cảm nhận từ cô thôn nữ Long Tân.
Mợ Sáu rót hai ly nước rồi bắt đầu câu chuyện:
-Thằng cháu của dì tự nhiên thèm ăn mít, không biết vườn nhà của hai cháu có trái nào chín chưa? Nếu có thì sáng mai để lại cho dì nha.
Mợ đưa tay chỉ anh, nhỏ nhẹ nói tiếp:
-Nó giỏi lắm đó nghen, sau này có gì cần giúp cứ cho dì biết. Dì kêu nó phụ một tay.
Chị Mây len lén đưa đôi mắt nhìn anh rồi tủm tỉm cười.
Anh và chị chưa trò chuyện mà chỉ thông qua ánh mắt. Vậy mà đã hiểu lẫn nhau và tình yêu đã đến với cả hai người xa lạ để ràng buộc lại thành một.
Một mối tình đầu đời, của anh và của chị. Hai trái tim cùng rung động một nhịp, cái cảm giác này không thể nào quên được bởi vì nó mang đến những xúc cảm và rung động mãnh liệt, mới lạ mà cả hai người chưa từng trải qua.
Chuyện tình nào cũng có một vài kỷ niệm không thể nào quên được. Buổi chiều nào đó anh rủ tôi lên Long Tân thăm chị Mây, tôi từ chối vì đang bận việc.
Thời gian đầu, ba chị không bằng lòng anh và có ác cảm bởi vì anh là một tên Nguỵ ác ôn. Chỉ có mẹ chị cho phép anh trò chuyện. Với bản chất chân thành và hiền hoà thân thiện anh đã chiếm mọi cảm tình của các em của chị Mây. Một đứa em mang ra dĩa mận rủ anh chị ra hiên nhà, đặc xuống chiếc ghế dài dưới một tàn cây rồi lẳng lặng chạy vô nhà để cho hai người dể dàng tâm sự.
Anh ngồi một đầu ghế, còn chị ngồi khoảng giữa.
Anh mãi ngắm nét đẹp thuỳ mị của chị nên tâm hồn xao xuyến quên trả lời những câu hỏi của chị, cho đến khi chị gắt:
-Ngồi đây mà anh đang mơ đến cô nào phải vậy không?
Chắc cô này đẹp lắm phải không?
Chắc người đẹp này phải là con nhà giàu, học giỏi phải vậy không?
Anh cười cười nói;
-Em đúng như đi guốc trong bụng anh , cô này thiệt là đẹp, học thì không giỏi cho lắm nhưng chắc chắn là giàu hơn anh nhiều.
Chị Mây làm bộ khờ khạo:
-Nè, ai vậy anh, nói đi. Nếu em quen thì em sẽ làm mai dùm cho.
Anh đăm chiêu ra vẻ mơ mộng:
-Cô này có cái tên thiệt là đẹp nha, là đề tài cho các thi nhạc sĩ nhìn lên trời để làm thơ viết nhạc nha.
Chị ngập ngừng:
-Cô này tên là Nguyệt, là sao hả anh?
Anh làm gan nắm lấy bàn tay của chị bóp nhẹ rồi từ tốn nói rõ ràng:
-Cô này tên thật là Mây.
Vừa nói anh vừa nhích đến gần phía chị. Một lần khi thấy chưa đủ để ngửi được hương thơm từ chị, anh bèn nhích thêm một chút xíu nữa.
Chị Mây vội giựt tay ra, lùi về phía cuối ghế. Không để khoảnh cách xa dần, anh nhích gần một tí nữa thì chị càng lùi.
Và mất điểm tựa, chị rớt từ trên ghế xuống đất. Tiếng kêu đau đớn đã khiến cả nhà chạy ra, và tôi có dịp cười thỏa thê khi nghe anh thuật lại câu chuyện.
Chuyện tình yêu trên đời, không lúc nào chu toàn theo mong muốn. Không có gì mà không thể xảy ra được.
Phía bên anh, vú của anh không bằng lòng cho anh cưới vợ. Mọi cố gắng để thuyết phục đều thất bại và vú không chịu đứng chủ hôn.
Phía bên chị mới thật là nan giải. Cái lý do đặc lên hàng đầu là hai hệ quan điểm chính trị khác nhau.
Ba chị Mây từng là Xã đội trưởng du kích Long Tân, tham gia trận Long Tân Long Phước năm 1966 chiến đấu với lính Úc và Tân tây Lan.
Với cương vị là người thắng cuộc, ông nhìn anh; một người lính không quân của chế độ cũ bằng một cặp mắt có hình viên đạn.
Lúc này tuy hòa bình đã lập được vài năm, nhưng một số tàn quân vẫn tiếp tục lẩn trốn và tìm cách chống đối lại chính quyền, gây rối trật tự và lập những vùng ly khai trong rừng sâu núi thẳm.
Điển hình là nhóm Tàn quân: Hai Bảnh tại Đất Đỏ.
Hai Bảnh là con của chú Tư Xiên sống từ nhỏ ở ấp Phước Thới. Trước năm 1975 chú Tư là thầy giáo dạy học. Sau giải phóng không thể tiếp tục vì đồng lương chết đói của nhà nước. Chú bỏ dạy, xoay qua biên đề và cho vay nợ.
Hai Bảnh là con đầu lòng của chú, tánh khí ngang tàng nhưng nhờ hấp thụ giáo dục trong một gia đình mô phạm biết kẻ trên người dưới.
Hai Bảnh thi tú tài IBM bị rớt, đang chuẩn bị đi lính thì ngày giải phóng xảy ra.
Thời gian tranh tối tranh sáng giữa cuối tháng tư năm 1975 Hai Bảnh đi theo cách mạng. Sau 30 Tháng Tư, 75 là đội trưởng du kích địa phương. Lúc công an lập ra những nút chận đánh thuế nông sản, hạn chế lương thực không cho gạo, đậu ra khỏi địa phương. Hai Bảnh nổi máu anh hùng gây hấn và xung đột với Mười Trinh trưởng công an huyện.
Tụ tập một số người bất mãn chế độ khoảng bảy người, trong đó có một vài người là lính của chế độ trước. Nhóm người này trốn phía sau dãi Núi Đất hướng suối Đá bàng Long Tân Xuyên Mộc.
Năm 1977 nổ súng chiếm ấp Phước Thới cướp vủ khí súng đạn, thu nhập lương thực của hợp tác xã, phân phối cho dân nghèo quanh vùng.
Vài giờ sau, huyện đội Long Đất cùng một số đơn vị bộ đội xuống. Tàn quân vội rút đi, gây một tiếng vang làm dân đi rừng hoang mang sợ hãi và từ đó nhiều lần xuất hiện xin gạo muối và thuốc men. Dụ dỗ và tuyên truyền thêm một số người nữa lên đến con số khoảng hơn 10 người.
Năm 1978 trong một lần về chùa Phước Sơn gần Núi Đất. Bà con sống tại đây mật báo cho chính quyền, Hai Bảnh bị phục kích và bị bắn chết, xác theo xe bò đem về chợ, gia đình ông Tư Xiên xin đem chôn cất.
Tàn quân tan rã.
Đám cưới của chị Mây và anh Thẹp, cuối cùng rồi cũng được tổ chức. Viết ra thì đơn giản nhưng thật sự rất khó khăn và phức tạp.
Tất cả cũng vì lòng một người cha thương con mà thôi. Thế mới biết là tình cha vô bờ bến, sau đám cưới bác đã xin nghỉ hưu mặc dù đường hoạn lộ đang thênh thang rộng mở, mặc dù lúc ấy bác đang là một Huyện uý viên của huyện Long Đất (Long Điền- Đất Đỏ). Bác đánh đổi sự nghiệp cách mạng của mình một phần cũng vì cái tính hiền lành và chân thật của anh và phần lớn: Yếu tố tác động chính là gốc tích dòng họ bên sui gia.
Bà ngoại có hai người em gái mà bà đã thay mẹ nuôi em khôn lớn rồi xây dựng gả chồng, bà chín Bông có một vị trí đáng kính nể ở cái xã Long Tân này. Bên chồng, bà con thân thuộc với ông Lê thành Tường chánh chủ tỉnh Bà Rịa thời pháp thuộc, ông Bá Hộ Chí giàu sang nức tiếng. Sự quan hệ này đã giúp nhiều cán bộ Việt Minh thoát khỏi nguy hiểm.
Trong thời chiến tranh bà tiếp tế vật chất và nuôi giấu cán bộ nằm vùng và ba chị Mây là một trong những người mang ơn bà.
Nhờ bà chín Bông và bà ngoại; một bà thầy thuốc nam hiền đức mà người chợ Đất Đỏ gọi là bác sĩ của dân nghèo. Ba chị Mây thay đổi lập trường, bằng lòng gả con gái đầu lòng cho người lính ngụy không quân ác ôn.
3-Tình người…
Trong ba anh em trai, thì người anh cả làm ăn khắm khá nhất . Nhớ cái ơn lúc cưới cô giáo nghèo vùng kinh tế mới Bưng Riềng Bà Tô, thằng em giữa này nhịn ăn nhịn mặc, mà đem mấy xe lúa bên vợ bán rẻ để lấy tiền, phụ giúp anh mua đôi bông tai làm quà sính lễ.
Nghĩa cữ này anh chị Hai nhắc hoài và cũng vì tấm lòng thương yêu lo lắng, hy sinh cả thân mình, chu toàn bảo vệ anh em ruột mà đôi khi tình cảm vợ chồng có lúc cay đắng khổ đau bị sức mẻ.
Anh thật sự là một người biết điều và hoàn toàn tốt.
Khi thấy cậu Sáu, sau khi đi học tập cải tạo về. Cậu nghèo khổ vì mất quyền công dân, anh vào rừng đốn củi cưa cây đem về tạo công ăn việc làm cho cậu kiếm sống qua ngày. Nhìn thấy cậu kéo cày thay trâu bò, anh động lòng lén mượn bò của Vú hay của bên vợ mà tranh thủ giúp, sự việc này cũng giống như anh từng làm cho dì Tư của anh, tức là má của tôi vậy.
Với cậu với dì mà anh đã hết lòng đến thế, huống hồ nói làm sao cho xiết cái tình của anh đối với anh em ruột thịt.
Người em Út bị bệnh, không thể nào chăm sóc những đám ruộng của gia đình. Anh liền cùng Vú vào canh tác. Một mình tự kiếm thêm ba sào ruộng giáp ranh phần ruộng nhà.
Vú anh bèn nói:
-Đây là ba sào do con làm ra, con hãy đứng sổ bộ mà làm.
Anh trầm ngâm suy nghĩ rồi trả lời:
-Vú thương mà cho con, con xin cảm ơn vú. Nhưng bây giờ thằng Út đứng tên toàn bộ ruộng đất cả nhà, hãy để nó khai cho dễ dàng vã lại nó đang cần tiền trị bệnh. Giao cho nó toàn quyền sử dụng. Chỉ cần nó biết ba sào này là của con làm ra và vú đã cho con. Sau này khi con cần, thì xin nó hãy trả lại vợ chồng con.
Ôi, cái tình anh em đậm đà là thế. Phong tục Việt Nam từ thuở nhỏ đã từng nghe cha mẹ dạy dỗ trong một nhà thì anh phải nhường nhịn em và đã làm em phải kính trọng phải nghĩ đến anh. Thì anh em sẽ thuận hoà và sẽ quan tâm chăm sóc lẫn nhau vậy.
“Thời gian như áng mây trôi
Một niềm ký ức xa xôi chợt về.N
gôi nhà xưa, chốn thôn quê
Ba anh em sống, vai kề yêu thương.
Ruột mềm máu chảy tỏ tường
Tay chân như thể nhịn nhường anh em.
Hôm nay bày tỏ nỗi niềm
Sao em nở để đắm chìm đệ huynh.
Con em bỏ chữ nghĩa tình
Quên ân phụ chữ gia đình Việt Nam.”
(HND)
Mỗi một gia đình đều có những khuất ẩn khó giải bài trong cuộc sống. Nhất là cuộc sống hiện giờ; đồng tiền đã phá vỡ những tình cảm thân thương. Ai có ngờ rằng con của thằng em Út giàu nức vách đổ tường, mà đan tâm nói một câu trong một buổi hợp gia đình trước mặt anh:
– “Anh em con quyết định không thể nào trả phần đất 3 sào của bà nội đưa ba con đứng tên cho bác được.”
Anh im lặng bỏ đi ra ngoài mà nhớ lại cái thời xa xưa. Ngày ấy lúc ở ruộng về, quần áo lem luốc, tay chân đầy bùn đất. Nghe tin thằng cháu đang bị động kinh sốt nặng .Đôi dép còn để trên chiếc xe bỏ, anh chạy thẳng vào nhà. Nhìn mọi người đang quýnh quáng, kẻ khóc người la, ngay ba má nó cuống quýt tìm chiếc muỗng để chận hàm răng đang sùi bọt mép . Thì anh đút ngay ngón tay trỏ vô miệng của thằng cháu rồi bồng chạy bộ đi tìm bác sĩ, mặc cho bàn tay ướt đẫm máu vì ngón tay bị hàm răng nó cắn chặt. Nó đã được cứu sống trong gang tất của tử thần. Nó sống cho đến ngày hôm nay nhờ ngày ấy mình chịu đựng cho nó cắn chảy máu. Bây giờ nó lớn nó cũng cắn mình, tuy không có chảy máu nhưng đau lòng muốn chết.
Cái đau lòng một lần nữa lại xảy ra khi nghe tin ngôi nhà xưa của ba và vú; nơi ba anh em chào đời đã bị chính quyền giải tỏa để làm bến xe và công viên.
Thằng cháu nhân ngày đám giỗ của Vú gọi điện mời anh dự, sẵn dịp bàn về vấn đề bồi thường và nhận đất tái định cư.
Anh muốn tránh mặt nó nên kêu vợ thay mặt mình cho đủ phận.
Không ngờ nó điện thoại sẵn giọng nói với anh:
-Bác có biết hôm nay là ngày gì không? Sao bác không đến.
Anh tức giận nhưng cố kềm lòng:
-Đám giỗ có bác gái thay mặt đến dự là được rồi.
Bên kia có tiếng la lớn:
-Bà nội đẻ ra bác hay bác gái?
Lần này thì anh không thể nào nhịn nổi:
-Bà nội đẻ ra tao hay ra mày. Rồi lạnh lùng cúp điện thoại.
Buổi chiều, vợ anh là chị Mây thuật lại:
-Cháu nó nói rằng bác ba không có một tờ giấy lận lưng, mặc dù nội có hứa là cho chú miếng đất mà khi xưa chú mở tiệm sửa xe đạp. Tụi con nhớ đến nội nên xin đưa cho bác một số tiền (bằng 1 phần 10 tổng số tiền bồi thường). Đây là tấm lòng của tụi con. Vì bác ba không đứng tên trong đất nên tụi con cũng không thể nhường 1 phần nền nhà tái định cư cho bác được.
Anh lắc đầu nói:
-Thế đất nhà của vú còn lại bao nhiêu?
Chị Mây ngập ngừng:
-Coi như mất trắng toàn bộ rồi anh ạ. Chỉ còn duy nhất một miếng hình tam giác dài khoảng 9 mét với chiều rộng hơn 2 mét rưỡi mà thôi.
Anh la lớn:
-Trời đất ơi, gần cả mẫu mà bây giờ chỉ còn một miếng đất dùng để chọi chim cũng còn thiếu.
Chị Mây ấp úng:
-Vậy mà khi anh chị Hai ngỏ ý muốn nhường lại để làm dấu tích ông bà tổ tiên, anh biết nó đòi bao nhiêu?
-Thì nói đi, anh sốt ruột hỏi:
-Hai tỷ rưỡi đó anh (khoảng $100,000).
Một ngày đẹp trời nào đó, có dịp ngồi trên ghế đá công viên ngay trong mảnh đất của căn nhà xưa, đưa mắt nhìn chỗ chôn nhao cắt rún, anh khe khẽ buồn mà than thở:
“Ước gì sống lại tuổi thơ
Khúc phim chiếu chậm tuyệt vời thật tươi.
Vô tư với những nụ cười
Anh em hòa thuận sáng ngời đáng yêu.
Ngọt ngào hương vị quê chiều
Kỷ niệm luôn mãi thương nhiều
Không quên…”


























































































































































