LTS: Nhật báo Người Việt mở mục “Độc Giả Viết” nhằm mời gọi quý độc giả “cùng làm báo” với Người Việt, chia sẻ những rung cảm, ý tưởng, quan niệm, hồi ức, kiến thức, kinh nghiệm… về đời sống và xã hội. Để tham gia, quý độc giả vui lòng gởi email: [email protected].
Bách Mỵ

Tốt nghiệp cử nhân Tuồng, một dạng tốt nghiệp không nằm ở bằng cấp mà nằm ở những cảm xúc về cuộc sống năm tháng cuộc đời đọng lại.
Tôi về với chợ sau bốn năm tốt nghiệp và sau bảy năm gắn bó với khu tập thể…
Vào những buổi sáng mùa Hè đầu tiên, khi những chiếc lá bàng quanh khuôn viên chợ tung xanh trong cơn gió ban mai, thì hình ảnh những người bạn của tôi cầm cờ phất lên, loan vào gió cảng Tiên Sa trong tiếng trống nhạc rộn ràng đón chào du khách cập cảng lại xanh màu trong ý nhớ.
Nhiều đôi mắt người qua chợ làm tôi da diết nhớ những giọt nước mắt hóa thân một thuở. Những Đào Tam Xuân, Trưng Trắc, Trưng Nhị… của tôi đang ngồi nhổ tóc sâu, đang ngồi tỉ mẩn từng hạt cườm, mũi kim đường chỉ để làm những trang phục, đạo cụ phục vụ những vở diễn mới. Là tôi đang đi một lối đi trong suốt riêng mình, trong ngôi chợ ồn ào, mua bán.
Cuộc quay về tìm lại dài hơn ngàn lần đời sống mà tôi đã sống. Những ký ức, tiếng cười giọng hát cứ vang lên trong miền thăm thẳm tôi nghe và thấy nhưng cánh tay không cách nào với tới. Những kỷ niệm lẩn vào khoảng mênh mông và chờ gặp tôi ở đó. Ký ức nằm trên những chiếc lá khô mắc lại nơi máng xối hội trường nhà hát, chờ một cơn mưa lớn gửi mình về đất. Ký ức nằm ở ánh trăng mùa Thu lấp lánh mái tôn khu tập thể những đêm nằm trên chiếc giường tầng nghe ánh trăng chảy tràn ra mặt biển T20…
Người ta nói, mọi thứ trong cuộc đời đều có thời điểm và đều đến từ chữ “Duyên.” Ngẫm lại mình thấy đúng quá. Thời gian xảy ra đại dịch là khoảng thời gian khó khăn và ảm đạm với tất cả mọi loài.
Nhưng cũng có thể là những ngày tháng tuyệt vời để quay về, cận kề những bình yên lắng đọng một thời.
Sáng nay, xem lại trích đoạn tuồng Sơn Hậu với sự biểu diễn của các nghệ sĩ tuồng cả ba miền Trung, Nam, Bắc. Thật ngỡ ngàng vì những cảm xúc mình nhận được khác nhau rõ rệt, theo cách thể hiện của từng vùng miền. Nhận thấy được sự tinh tế trong tiểu tiết biểu diễn của từng diễn viên với cùng một nhân vật. Nhận thấy mức độ truyền cảm hứng rõ rệt của Thanh, Sắc, Thục, Tinh, Khí, Thần từ nghệ sĩ. Nhận thấy rõ niềm yêu thích, đam mê mãnh liệt trong mình trỗi dậy. Nếu tuồng trong mình như một dòng sông chảy, thì ở nhiều thời điểm dòng sông cứ bị ứ lại và tắc mạch bởi vật cản và cái nắng nóng khắc nghiệt của thời tiết.
Sáng nay, dường như mọi thứ lại hiền hoà êm đềm đưa mình trở lại một dòng trôi nguyên bản ấy. Mình xúc động tột độ trước những hình ảnh của Khương Linh Tá, Đổng Kim Lân…

Từ những đường nét màu sắc, nghệ sĩ đã giữ được một nét tự hào rạng rỡ nhất trên khuôn mặt của mình, những người giữ nghề và phát huy những giá trị quý báu này. Nhận thấy rằng sự gìn giữ mãi là sự gìn giữ, phát huy cũng mãi chỉ là phát huy, là một cách đi riêng của những thế hệ sau dựa trên một nền móng chung không thể nào chuyển giao trọn vẹn được.
Tôi cách đây 10 năm xem tuồng và tôi bây giờ xem tuồng cũng đã có quá nhiều khác biệt. Ngày xưa, mặc dù tắm gội trong tuồng, ngụp lặn trong tuồng nhưng mình đã “sắm vai” khán giả với một cảm xúc khác. Lúc đó, làm sao thấm thía được một tình bạn cao cả giữa Khương Linh Tá và Đổng Kim Lân là như thế nào đâu. Chỉ thấy hình ảnh Khương Linh Tá tự nhặt đầu mình lên vuốt máu vấy về phía quân thù và lắp lên cổ mình tiếp tục chạy theo Đổng Kim Lân là ghê rợn, là phi lý chứ không thấy được lòng trung nghĩa, quả cảm của Khương Linh Tá ngời lên trong đôi mắt; không thấy được sự lẫm liệt của một đấng anh hào; không thấy được sự sống của một con người nhân nghĩa, trượng phu là một cái chết bất khuất, làm khiếp đảm cả những kẻ phản nghịch, gian tà.
Thực sự xúc động trước tiếng gọi tên nhau trong cảnh Khương Linh Tá (người đã thác) rọi đèn cho Đổng Kim Lân phò hoàng tử và thứ phi về thành Sơn Hậu. Ngọn đèn ấy, tiếng kêu ấy không khiến tôi sợ hãi khi sân khấu chợt tối và những âm thanh rừng núi hoang vu từ đạo cụ và ánh sáng của sân khấu nữa. Lần này, cảnh này đã dâng lên trong tôi một niềm xúc động vô bờ bến.
Tôi nhận ra rằng khi con người ta có sự khẳng khái, có tình thương yêu họ sẽ có được ánh sáng của cuộc đời. Trong những khuôn mặt, những đường hia, những bàn tay đầy tiếng nói ấy tôi đã tìm lại được kí ức tuổi thơ của mình. Về những đêm trăng cả làng ngưng giã gạo. Những đêm tối trời thắp đuốc bã mía mang những gương mặt háo hức, hạnh phúc của mình đi thật sớm đến sân đình, sân bãi để có được một khoảnh khắc ngồi gần nghệ sĩ. Được ngồi gần trống chầu, gần người thưởng thẻ để trải nghiệm không khí hùng hồn sôi sục nhất. Nhưng trong tất cả, những giọng hát ấy tôi vẫn không thể nào tìm được giọng hát tháng năm tuổi thơ mình.
Một làn hơi ấm, khỏe “tới bờ tới góc, tròn vành rõ chữ” có lẽ là điều tiên quyết đối với một nghệ sĩ tuồng thực thụ. Sự “tới bờ tới góc” ấy không chỉ là âm độ của giọng hát đơn thuần, mà đó là biên độ của tâm hồn nghệ sĩ. Là một nguồn năng lượng thiên bẩm.
Trong tiếng hát có tất cả sắc thái của khuôn mặt, của hình thể, của sâu thẳm niềm đau kiếp nhân sinh. Giọng hát là sự biểu đạt đúc kết của nhiều thế hệ. Giọng hát là tiếng nói thẳng thừng, cay đắng… cất lên ở những đời này và sẽ trên đường đi đến những đời sau mãi mãi.
Ai cũng có một cuộc đời để sống, nhưng không ai biết trước được rằng đời sống ấy sẽ kéo dài bao lâu. Và tuổi thọ đời sống có phải được tính khi bạn chết đi về mặt thể xác hay không? Và sự tồn tại của một loại hình nghệ thuật hay phương thức nào đó cũng vậy. Sống thực sự với việc hít thở, vận động tự thân. Nói lên được tiếng nói riêng của mình. Có được sự yêu thương, quý mến và trách nhiệm tự nhiên cần thiết của mọi tầng, lớp xã hội.
Tuồng như một đứa con cá tính và khó nuôi. Những đứa con như vậy sẽ luôn cần một đấng sinh thành, những thế hệ dưỡng nuôi mẫn tuệ, thương yêu, quan tâm và nhẫn nại…

































































































































































