Trúc Phương/Người Việt
Chỉ với việc nhại lại động tác rắc muối của đầu bếp Thổ Nhĩ Kỳ có biệt danh Salt Bae, người phục vụ món bò dát vàng cho ông Tô Lâm (thời ông này còn ngồi ghế bộ trưởng Công An, nay là tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam), anh Bùi Tuấn Lâm – được cộng đồng mạng gọi là “thánh rắc hành” – bị chụp mũ đủ thứ tội và bị xử năm năm sáu tháng tù và bốn năm quản chế vì “vi phạm Điều 117 Bộ Luật Hình Sự”…

Với chính quyền: Giỡn vậy hông có vui nha!
Với những chính quyền độc tài như Cộng Sản Việt Nam, giới chính trị chóp bu không phải là đối tượng để châm chọc. “Tiếng cười chính trị” của người dân, với họ, không vô hại. Nó là “hành vi” ác ý có chủ đích.
Lịch sử văn hóa chính trị thế giới đầy những câu chuyện cho thấy các chế độ chuyên chế luôn đàn áp tiếng cười. Các nhà lãnh đạo độc tài không thích hài hước. Lãnh đạo càng độc đoán và “lôm côm” thì sự chỉ trích mang ngôn ngữ hài hước càng bùng nổ.
Một thời, mạng xã hội Việt Nam đầy những trích dẫn “ngu tàn bạo” của vô số quan chức cấp cao trong nước. Nhân vật từng “chiếm sóng” một thời là “anh Bảy,” tức (cựu thủ tướng, cựu chủ tịch nước) Nguyễn Xuân Phúc.
Trong thực tế, hiếm có quyền lực nào có thể thoải mái trước sự nhạo báng. Nhà độc tài nào cũng muốn được tôn kính và nguyên thủ nào cũng muốn được nịnh bợ vuốt ve. Nhưng tiếng cười, chỉ bằng vài câu châm chọc, có thể bóc trần sự giả tạo. Đó là lý do châm biếm chính trị trở thành “kẻ thù không đội trời chung” của quyền lực chuyên chế. Nhân vật chính trị nào hoặc nền chính trị nào càng “tào lao xịt bụp” thì thiên hạ càng thích châm chọc. Chẳng ai hào hứng châm chích kẻ “chính nhân” mà thiên hạ chỉ khoái “đá giò lái” bọn “quân tử” dỏm.
Ông Saddam Hussein, cố lãnh đạo Iraq, từng ra lệnh ám sát cả một đoàn phim chỉ vì họ sản xuất bộ phim nhại lại ông. Được sản xuất tại Bắc Iraq, địa phận thuộc quyền kiểm soát của người Kurd, bộ phim châm chọc ông Hussein của danh hài Mahir Hassan được đón nhận khắp khu vực khi nó ra mắt đầu những năm 2000. Điên tiết, ông Hussein ra lệnh truy lùng nhà sản xuất Mahir Hassan lẫn diễn viên Goran Faili (trong vai Saddam). Một biệt đội thậm chí được thành lập để giết toàn bộ nhóm diễn viên. Suốt nhiều năm, diễn viên Goran Faili phải ẩn náu và sống sót sau nhiều lần bị ám sát hụt. Cuối cùng, chính quyền Kurd bắt được nhóm sát thủ của Saddam (theo BBC: “When political comedy is a case of life or death”).
Tại Nga, một trong những việc đầu tiên ông Vladimir Putin, tổng thống Nga, làm khi nắm quyền là tiêu diệt các nhà châm biếm trên sóng truyền hình. Đầu những năm 2000, kênh NTV thường xuyên phát chương trình châm biếm “Kukly” (“Những Con Rối”). Phát điên vì việc bị lôi ra làm trò cười, ông Putin cho quân đội ập vào trụ sở công ty mẹ; và chủ sở hữu Vladimir Gusinsky bị bỏ tù. “Kukly” bị cấm sóng. Ông Gusinsky buộc phải giao lại đài cho một tài phiệt thân ông Putin.
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, ông Recep Tayyip Erdogan, tổng thống, từng nổi giận đến mức yêu cầu chính phủ Đức truy tố một nghệ sĩ hài vì ông này làm thơ nhạo báng mình. Trong nước, ông Erdogan nhiều lần truy tố công dân chỉ vì họ chế giễu ông trên Facebook. Đỉnh điểm, có một người bị đưa ra tòa chỉ vì tội so sánh ông Erdogan với Gollum – nhân vật có ngoại hình dị hợm trong phim “Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn.”
Ở Ai Cập, ông Bassem Youssef – bác sĩ giải phẫu tim trở thành danh hài – từng là biểu tượng của tự do ngôn luận sau cuộc cách mạng Mùa Xuân Ả Rập. Chương trình của ông, nhại lại phong cách của nhà truyền thông Mỹ Jon Stewart, thu hút hàng chục triệu khán giả. Tiếng cười của ông Youssef bị quy chụp là “mối đe dọa” cho chế độ. Dưới áp lực chính quyền, ông Youssef phải rời Ai Cập sang Mỹ.
Tại Bắc Hàn, chọc ghẹo lãnh đạo là tội “trời không dung, đất không tha.” Thậm chí vô tình gấp tờ báo có in hình “lãnh tụ kính yêu” cũng đủ để mang lại rắc rối. Năm 2014, hai nhà làm phim Seth Rogan và James Franco tung ra bộ phim “The Interview” không chỉ chế giễu ông Kim Jong Un, chủ tịch Bắc Hàn, mà còn cho “đồng chí Ủn” “ngủm củ tỏi” ở cuối phim. Bắc Hàn tức giận, xua hacker ra tấn công hãng phim Sony.
Hài hước chính trị tất nhiên không có chỗ đứng ở Trung Quốc. Hài độc thoại (stand-up comedy) từng bùng nổ ở nước này vào năm 2010, đặc biệt thời gian xảy ra đại dịch COVID-19. Chỉ trong năm 2021 có tới 18,500 buổi diễn hài độc thoại. Sân khấu hài trở thành nơi giới trẻ Trung Quốc xả những bức xúc xã hội. Tuy nhiên, hoạt động giải trí này nhanh chóng bị chết yểu. Tất cả là “tại” anh Lý Hạo Thạch (Li Haoshi).
Tháng Năm, 2023, anh Lý Hạo Thạch – nghệ sĩ hài độc thoại nổi tiếng nhất Trung Quốc thời điểm đó – đã dùng một khẩu hiệu của quân đội (“có khả năng chiến thắng trong các trận chiến, và có phong cách tốt”) để khen đám chó cưng của mình. Điều khiến anh Thạch bị “tuyên án tử” sự nghiệp là câu trên lại là “lời dặn dò” của ông Tập Cận Bình, chủ tịch Trung Quốc. Anh Thạch bị cáo buộc xúc phạm và phỉ nhổ quân đội, bị “còng đầu” ra tòa, và bị phạt số tiền tương đương $2 triệu! Từ đó, sân khấu hài độc thoại Trung Quốc gần như biến mất.
Ở Việt Nam, hài độc thoại có lúc bùng nổ khá mạnh. Nổi tiếng nhất là nhóm Saigon Tếu. Tuy nhiên, nếu theo dõi hoạt động hài độc thoại ở Việt Nam nói chung và nhóm Saigon Tếu nói riêng, có thể thấy họ chẳng bao giờ dám hó hé chuyện chính trị. Họ chỉ cười cợt những chuyện xã hội linh tinh, về quan hệ trong giới trẻ hoặc quan niệm sống trong thời đại mới. Chớ hề dám đụng đến “chính trị chính em,” nếu muốn sống và muốn tồn tại.
Khi bản thân nguyên thủ là “thằng hề”
Ở những nền dân chủ lâu đời như Mỹ và Âu Châu, quyền được cười nhạo lãnh đạo được xem là hiển nhiên. Chẳng có chính trị gia hoặc tổng thống Mỹ nào không bị châm chọc. Ông George W. Bush, tổng thống Mỹ thứ 43, một thời là “mồi nhậu” hàng đêm trên các chương trình truyền hình cũng như trên báo chí. Những chương trình hài đêm khuya (late-night talk show) không phải là sản phẩm ngày nay. Nó là văn hóa truyền thống của phong cách truyền thông Mỹ. Chương trình “Saturday Night Live” của NBC ra đời từ năm 1975.
Trong thực tế, Mỹ là nơi đẻ ra thể loại talk show đêm khuya. Format chung của thể loại này được xây dựng xoay quanh các đoạn độc thoại hài hước về tin tức trong ngày, châm chọc những hành động hoặc câu nói của giới chính trị gia được xem là “ngu bạo nhất” trong ngày, phỏng vấn khách mời, dựng tiểu phẩm hài và biểu diễn âm nhạc. Định dạng talk show đêm khuya phổ biến nhờ Johnny Carson và cộng sự Ed McMahon với chương trình “The Tonight Show Starring Johnny Carson” trên NBC (kéo dài từ 1962 đến 1992). Những phiên bản đầu tiên của talk show đêm khuya có từ thập niên 1940, khi công nghệ truyền hình bùng nổ, đặc biệt sau Đệ Nhị Thế Chiến.
Trước những Jimmy Kimmel, Jimmy Fallon, Stephen Colbert, Seth Meyers, Trevor Noah, Conan O’Brien, James Corden của thời nay…, nước Mỹ đã có những Johnny Carson, David Letterman, Jay Leno… Họ bị giới chính trị gia ghét nhưng chẳng ai trong họ bị xem là “kẻ thù của nhân dân.”
Mỹ không là nước Tây phương duy nhất thực hiện các chương trình hài hước chính trị nhưng Mỹ gần như là nơi duy nhất và độc đáo nhất mà sự châm biếm chính trị trở thành món ăn bình thường của người dân suốt nhiều thế hệ. Chắc chắn không tổng thống hay chính trị gia nào thích bị “lôi” lên sóng truyền hình để làm trò cười cho hàng triệu người nhưng chỉ những kẻ “yếu bóng vía,” “mắc bệnh” tự ái, chính xác hơn là “ái kỷ,” “da mỏng,” mới tìm cách đóng cửa những chương trình này.
Theo Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International, AI), nghệ sĩ hài Lebanon Nour Hajjar bị bắt vào năm 2023 vì tội nói đùa rằng quân đội nước này phải làm thêm để kiếm cơm. Năm 2024, nghệ sĩ hài Iran Zeinab Mousavi bị bắt và bị biệt giam 25 ngày vì tội châm biếm chế độ. Năm ngoái, nghệ sĩ hài độc thoại Aleksandr Merkul bị giam 10 ngày tại Kazakhstan với cáo buộc “có hành vi và lời nói mang tính côn đồ.”
Nhìn chung, thời nào và ở đâu cũng có châm biếm chính trị, cũng có hài hước chính trị và cũng có châm chọc chính khách. Tuy nhiên, chỉ những nơi mà nền dân chủ mông muội, hoặc đang “thèm khát” trở thành mông muội, thì nhà cầm quyền mới không dám đối diện với tiếng cười.
Những ngày qua, một số tờ báo Mỹ “tự nhiên” lật lại bài báo đăng từ năm… 1939 trên The New York Times có tựa “Goebbels Ends Careers of Five ‘Aryan’ Actors Who Made Witticisms About the Nazi Regime.” The New York Times viết, họ “có lẽ là những nghệ sĩ hài nổi tiếng nhất từng sống sót sau các cuộc thanh trừng trước đây của Cơ Quan Văn Hóa Đức (Quốc Xã) và vẫn dám nói những câu nói đùa chính trị.” Họ bị ông Joseph Goebbels gọi là “trơ tráo, hỗn láo, ngạo mạn và vô duyên,” khi dám pha trò về chính sách của chế độ, trong đó có Kế Hoạch Bốn Năm “làm cho nước Đức trở nên vĩ đại” của ông Adolf Hitler.
Mỹ không thể “quay ngược lịch sử” để trở lại thời thập niên 1930 như ở Đức thời Nazi. Mỹ cũng không phải là Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga hay Trung Quốc hoặc Việt Nam – không chỉ về chính trị mà còn về văn hóa và đặc biệt về truyền thông. Chỉ riêng chương trình “Jimmy Kimmel Live!” đã mang về doanh thu quảng cáo gần $70 triệu cho đài ABC (theo Business Insider: “Late-night TV is under threat from Trump and a precarious business model”). Đó là một trong những lý do mà ABC phải mở cửa trở lại để đón ông Jimmy Kimmel chỉ sau một tuần ông Jimmy bị “rút phép thông công.” Chi tiết này cũng cho thấy yếu tố tính toán thiệt hơn trong kinh doanh song hành với văn hóa chính trị gắn bó với nhau sâu như thế nào ở Mỹ.
Bất luận thế nào, cách tốt nhất để không bị “lên sóng” cho thiên hạ cười bò trước khi ngủ vào những “đêm muộn” thì cá nhân nguyên thủ đừng tự biến thành thằng hề, hoặc “y chang một thằng hề rẻ tiền.”
“Lãnh tụ thiên tài” càng lố bịch nhố nhăng bao nhiêu thì “chất liệu” cho những chương trình châm biếm truyền hình càng dồi dào bấy nhiêu. [qd]

















































































