Trúc Phương/Người Việt
Không khí World Cup đang thổi bùng cơn sốt túc cầu của người hâm mộ Mỹ. Khán đài các vận động trường, khi có đội Mỹ ra sân, ngập tràn cờ Mỹ và tiếng thét đồng thanh “USA” ủng hộ đội nhà. Chuyện đội Mỹ giành được cúp vô địch, dù vậy, xem ra còn là điều trong mơ, nhưng bất luận các chân sút Mỹ có dừng lại sau ngày 1 Tháng Bảy hay đi tiếp thì người Mỹ vẫn đang thống trị một phần túc cầu thế giới.

Mỹ “đá thủng lưới” Châu Âu trên sân nhà của họ
Tính đến thời điểm này, giới đầu tư Mỹ đang nắm sở hữu hơn 40 câu lạc bộ túc cầu châu Âu, trong đó có Arsenal (đương kim vô địch Ngoại Hạng Anh), Inter Milan (đương kim vô địch Serie A của Ý). Hơn một nửa trong 92 đội thuộc bốn giải đấu hàng đầu tại Anh và Xứ Wales đều có sự tham gia vốn đầu tư Mỹ.
Bốn câu lạc bộ thành công nhất lịch sử bóng đá Anh – Liverpool, Manchester United, Arsenal và Chelsea – hiện đều do các chủ sở hữu Mỹ kiểm soát đa số cổ phần. Liverpool thuộc Fenway Sports Group, Manchester United thuộc gia đình Malcolm Glazer, Arsenal thuộc Kroenke Sports & Entertainment, và Chelsea thuộc Clearlake Capital/Todd Boehly.
Các đội bóng khác có chủ sở hữu Mỹ là Aston Villa (V Sports, đồng sở hữu bởi Wes Edens), Bournemouth (Black Knight Football Club, do Bill Foley đứng đầu), Burnley (Velocity Sports Limited, do Alan Pace đứng đầu), Crystal Palace (Woody Johnson), Everton (The Friedkin Group), Fulham (Shahid Khan) và Leeds United (49ers Enterprises).
Ngoài ra, các ngôi sao thể thao Mỹ (như trường hợp J.J. Watt đối với câu lạc bộ Burnley) và giới tài tử Hollywood (như Will Ferrell với Leeds, Michael B. Jordan với Bournemouth) cũng tham gia với tư cách nhà đầu tư nắm cổ phần thiểu số. Chưa kể rapper Snoop Dogg trong trường hợp câu lạc bộ Swansea, và ngôi sao bóng rổ LeBron James với Liverpool.
Khi Malcolm Glazer hoàn tất thương vụ Manchester United với giá 790 triệu bảng ($1.06 tỷ) vào Tháng Năm, 2005, tỷ phú New York này đã trở thành ông chủ Mỹ đầu tiên tham gia Giải Ngoại Hạng Anh (Premier League). Hơn hai mươi năm sau, 11 câu lạc bộ Premier League hiện thuộc quyền sở hữu của các cá nhân, gia đình hoặc các quỹ đầu tư tư nhân đến từ Mỹ. Nếu nhìn xuống EFL Championship – giải đấu hạng hai của túc cầu Anh và là bước đệm trực tiếp dẫn lên Premier League – thì có tới chín câu lạc bộ hiện được sở hữu đa số cổ phần bởi các công ty hoặc cá nhân Mỹ.
Stan Kroenke là một trong những điển hình. Stan Kroenke, chủ câu lạc bộ Arsenal, cũng là người sở hữu đội bóng bầu dục Los Angeles Rams, đội bóng rổ Denver Nuggets (thuộc khuôn khổ NBA) và đội khúc côn cầu trên băng Colorado Avalanche (giải NHL). Năm 2007, Kroenke đầu tư vào Arsenal khi mua 9.9% cổ phần từ ITV. Năm 2011, ông trở thành cổ đông lớn sau khi nâng tỷ lệ sở hữu lên khoảng 63%. Năm 2018, Kroenke mua nốt khoảng 30% cổ phần trong Arsenal từ tay Alisher Usmanov với giá khoảng 550 triệu bảng Anh, qua đó sở hữu 100% Arsenal thông qua Kroenke Sports & Entertainment.
Trong thực tế, Kroenke gần như không biết gì về túc cầu. Trước khi trở thành trùm thể thao, Kroenke – xuất thân từ vùng nông thôn Missouri – là dân kinh doanh bất động sản (vợ của ông là Ann Walton, người thừa kế gia tộc từng dựng nên đại siêu thị Walmart). Ông “mê” đất hơn thể thao. Sau khi mua 937,000 mẫu Anh (khoảng 380,000 hecta) tại New Mexico vào năm 2025 – tương đương 1.2% diện tích tiểu bang lớn thứ năm nước Mỹ, Kroenke hiện sở hữu nguồn đất với tổng diện tích 2.7 triệu mẫu Anh – tương đương khoảng hai triệu sân bóng bầu dục. Danh hiệu chủ sở hữu đất tư nhân lớn nhất Mỹ hiện thuộc về ông. Chính bởi gốc gác là dân bất động sản nên khi Kroenke mua Arsenal, nhiều người tin ông không thể vực dậy nổi câu lạc bộ đang tuột dốc thời điểm đó…
Khi người Mỹ đến…
Điều người hâm mộ lo ngại là sự “Mỹ hóa” từ cơn lốc người Mỹ đổ bộ vào Châu Âu. Họ sợ rằng tiền Mỹ có thể làm thay đổi diện mạo túc cầu truyền thống Châu Âu. Hoạt động các câu lạc bộ Châu Âu khác hoàn toàn hệ thống Mỹ. Trong khi các giải đấu chuyên nghiệp Mỹ (U.S. Leagues) là hệ thống khép kín (“closed”), tức là các giải có những đội cố định, thì túc cầu Châu Âu là hệ thống kim tự tháp, nơi các đội có thể bị rớt hạng và do vậy có thể làm sụt giảm hàng triệu đô la giá trị đội bóng trong chớp mắt.
Cấu trúc kim tự tháp không chỉ tồn tại ở Châu Âu. Nó trở thành mô hình phổ biến túc cầu thế giới và được đưa vào điều lệ FIFA. Những quy định về thăng hạng và xuống hạng tạo nên kịch tính lẫn sự căng thẳng kéo dài suốt mùa giải. Với dân mê đá banh, đó chính là yếu tố hấp dẫn nhất của túc cầu.
Tuy nhiên, đó cũng là điều mà giới chủ Mỹ muốn thay đổi. Với dân làm ăn Mỹ, họ không muốn bỗng dưng mất trắng khi câu lạc bộ của họ xuống hạng. Do vậy, ý tưởng “European Super League” (ESL) ra đời. Tháng Tư, 2021, giải “khép kín” mang tên European Super League được công bố. Đó là “giải đấu thượng đỉnh” giúp bảo đảm suất tham dự vĩnh viễn cho 12 đến 15 đội, cùng một số ít đội luân phiên hàng năm, trong khuôn khổ cấp châu lục có thể mang lại doanh thu hàng tỷ đô la.
Giới bình luận gọi đây là “giải đấu ly khai” nhằm hạ bệ giải truyền thống Premier League. ESL được lên kế hoạch với tài trợ $4 tỷ từ ngân hàng JPMorgan. Kế hoạch trên là kết quả màn đi đêm của các tỷ phú Mỹ vốn kiểm soát bốn câu lạc bộ AC Milan, Arsenal, Liverpool và Manchester United. Với một số người, không ví dụ nào về việc “xâm chiếm” và “đồng hóa” nền túc cầu đỉnh cao châu Âu bằng vụ ELS. Với các suất tham dự cố định, không có nguy cơ xuống hạng và quyền kiểm soát giải nằm trong tay các ông chủ của những đội bóng có suất vĩnh viễn, ELS hoạt động theo mô hình y hệt các giải nhà nghề ở Mỹ.
Dân Châu Âu nổi giận. Từ người hâm mộ, huấn luyện viên đến các cựu cầu thủ từ sáu đội Ngoại Hạng Anh đều phản đối. Họ gọi đó là “sự phản bội tột cùng” đối với truyền thống túc cầu Châu Âu. Cuối cùng, cả sáu đội đều rút lui trong vòng 72 giờ từ khi ESL được công bố. Từ Đức, hai đội bóng lớn nhất, Bayern Munich và Borussia Dortmund, tuyên bố không đồng ý tham gia. Ở Pháp, câu lạc bộ Paris Saint-Germain từ chối lời mời.
Dù kế hoạch ESL bất thành, người Mỹ vẫn có thể “Mỹ hóa” túc cầu Châu Âu theo cách khác. Mỹ đến đâu thì văn hóa Mỹ hiện diện ở đó. Ban đầu, khi thấy màn múa ra mắt của các đội cổ vũ vốn luôn xuất hiện trước các trận đấu thể thao Mỹ, dân Châu Âu rất khó chịu. Các tiết mục giải trí giữa hiệp cũng không làm họ vui. Dần dà, người ta cũng quen. Một số “yếu tố Mỹ” bắt đầu tạo ra ảnh hưởng. Các giải thể thao chuyên nghiệp Mỹ thường điều chỉnh luật để tăng số điểm ghi được; hiện tại, FIFA cũng thử nghiệm luật việt vị mới nhằm có thể mang lại nhiều bàn thắng hơn.
Tại Liverpool, người hâm mộ ít nhiều hài lòng với cách điều hành của công ty mẹ Fenway Sports Group (FSG). Ngoài việc giúp mang lại hai chức vô địch Premier League trong bốn mùa – những danh hiệu vô địch quốc gia đầu tiên của câu lạc bộ sau 30 năm – và một cúp UEFA Champions League, FSG còn chi 415 triệu bảng ($557.8 triệu) vào Hè 2025 để tái thiết đội hình, giữ chân các ngôi sao như Mohamed Salah và Virgil van Dijk trước khi họ trở thành cầu thủ tự do.
Các câu lạc bộ nhận ra rằng, màu sắc thương mại hóa túc cầu theo cách người Mỹ, suy cho cùng, chẳng là tai họa. Dân tỷ phú Mỹ không rành túc cầu nhưng họ biết biến túc cầu thành thứ hàng hóa sinh lời. Tỷ phú New York Malcolm Glazer (mua Man United vào năm 2005) đã vận dụng kiến thức tiếp thị từ NFL (National Football League – giải bóng bầu dục chuyên nghiệp Mỹ) để tăng gấp bốn doanh thu hàng năm cho Man United, từ 157 triệu bảng Anh năm 2005 lên 662 triệu bảng ($890 triệu) năm 2025.
Từ khi tiếp quản Chelsea cách đây bốn năm, Clearlake Capital/Todd Boehly (đồng sở hữu đội bóng chày Los Angeles Dodgers tại MLB – Major League Baseball) đã tăng cường đội ngũ chuyên gia dữ liệu, mô phỏng ứng dụng phân tích khảo sát trong thể thao Mỹ để nâng tỷ lệ thành công trong việc chiêu mộ cầu thủ. Chelsea cũng áp dụng mô hình thể thao Mỹ với các hợp đồng dài hạn, chẳng hạn trường hợp Cole Palmer và Nicolas Jackson ký hợp đồng chín năm vào năm 2024. Vụ này sau đó được Manchester City học hỏi, khi họ ký hợp đồng chín năm rưỡi với cầu thủ Erling Haaland.
Việc “Mỹ hóa,” cho đến thời điểm này, nói chung, chỉ diễn ra ở hình thức văn hóa bên ngoài, hơn là có thể đi sâu hơn vào cấu trúc bên trong. Thất bại vụ ESL là điển hình. Các ông chủ Mỹ đang kiểm soát 11 câu lạc bộ tại Premier League, trong khi đó, bất kỳ thay đổi nào về quy định cũng cần đồng thuận của ít nhất 14 trong tổng cộng 20 câu lạc bộ thuộc khuôn khổ Giải Ngoại Hạng Anh. Quy định này được thiết lập ngay khi Premier League được thành lập năm 1992 nhằm bảo đảm rằng các câu lạc bộ quyền lực nhất không thể chơi ép các đội nhỏ khi đưa ra những thay đổi có lợi cho họ. [dt]

























































































































