Hiếu Chân/Người Việt
Không ngoài dự đoán, Trung Quốc đã lợi dụng chuyến thăm Đài Loan của Chủ Tịch Hạ Viện Hoa Kỳ Nancy Pelosi để gia tăng áp lực quân sự đối với đảo quốc Đài Loan và công khai thách thức Hoa Kỳ, đẩy quan hệ giữa Washington và Bắc Kinh xuống đáy vực. Bóng ma chiến tranh ám ảnh hơn bao giờ, nhưng một cuộc xung đột quân sự Trung-Mỹ có tránh được hay không?

Đến Thứ Sáu, 5 Tháng Tám, “chiến dịch quân sự có mục tiêu” của Trung Quốc đã sang ngày thứ hai và lộ rõ ý đồ của Bắc Kinh là bao vây, phong tỏa Đài Loan, ngăn chặn mọi mũi tiếp viện có thể có từ quân đội Nhật và Hoa Kỳ. Đài truyền hình trung ương Trung Quốc cho biết nước này đã điều động hơn 100 máy bay và hơn 13 tàu chiến vào sáu khu vực gần các căn cứ quân sự và hải cảng chính của Đài Loan, một số hỏa tiễn đạn đạo của Trung Quốc rơi xuống các vùng biển ngoài khơi Đài Loan và Nhật.
Không chỉ nhắm đe dọa Đài Loan, Trung Quốc còn gây hấn với Mỹ bằng việc ban hành lệnh “cấm vận” bà Pelosi và thành viên gia đình. Nghiêm trọng hơn là Trung Quốc đơn phương tuyên bố đóng băng toàn bộ các kênh liên lạc cấp cao giữa Washington và Bắc Kinh cả trong lĩnh vực quân sự lẫn trong việc hợp tác chống tội phạm, chống biến đổi khí hậu, và nhiều lĩnh vực khác.
Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang cố chứng tỏ với người dân Hoa Lục rằng đảng Cộng Sản Trung Quốc không ngán Hoa Kỳ và sẵn sàng “chơi rắn” để “bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.” Toan tính đó của ông Tập có thể giúp ông củng cố quyền lực của đảng Cộng Sản, giúp ông giành thêm được nhiệm kỳ thứ ba nhưng đang đặt cả thế giới vào một tình huống hết sức nguy hiểm.
Quan hệ giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ và Đài Loan ngày càng căng thẳng. Các nhà quan sát cho rằng, hành động của Bắc Kinh – từ tập trận rầm rộ đến cắt đứt liên lạc – không phải là phản ứng tức thời với chuyến thăm Đài Loan của bà Pelosi mà là một kế hoạch được chuẩn bị từ lâu, phối hợp nhiều ngành quân sự và dân sự, tính cả việc ngăn chặn tiếp viện cho hòn đảo. Đến lúc này, Trung Quốc đã lộ bài, các chỉ huy quân đội Hoa Kỳ, Nhật, và nhiều nước khác đang theo dõi sát để biết chắc Trung Quốc sẽ làm gì khi nổ ra xung đột vũ trang.
***
Giáo Sư Graham Allison của trường đại học Harvard University từ lâu đã đưa ra thuật ngữ “bẫy Thucydides” để dự báo chiến tranh giữa một cường quốc đang lên và một cường quốc đang thống trị. Câu chuyện bắt nguồn từ nghiên cứu của nhà sử học Hy Lạp cổ đại Thucydides, cho rằng cuộc chiến tranh Peloponnese cách đây 2,500 năm là do cường quốc Sparta lúc đó lo sợ trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của Athens.
Khảo sát 16 trường hợp xung đột tương tự trong 500 năm qua, Giáo Sư Allison nhận thấy có 12 trường hợp dẫn tới chiến tranh. Và ông vận dụng “quy luật” đó để cảnh báo một cuộc chiến tranh giữa cường quốc đang thống trị là Hoa Kỳ với cường quốc đang nổi lên là Trung Quốc, rất có thể diễn ra và sẽ rất thảm khốc.
Điểm nóng xung đột chắc chắn là Đài Loan, đảo quốc dân chủ tự do mà Trung Quốc cho là lãnh thổ của họ và quyết thâu tóm. Sau khi đánh bại Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch trong cuộc nội chiến Trung Hoa năm 1949, đảng Cộng Sản Trung Quốc nhiều lần cố chiếm Đài Loan nhưng đều không thành công. Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc (PLA) chưa bao giờ đặt chân được lên lãnh thổ Đài Loan.
Trong mưu đồ tiêu diệt khối Cộng Sản Liên Xô, năm 1972, Tổng Thống Richard Nixon và Ngoại Trưởng Henry Kissinger của Mỹ đã “tháo cũi sổ lồng” cho con cáo già Trung Quốc, kéo Bắc Kinh ra khỏi tình trạng bị cô lập và chấp nhận một nguyên tắc hết sức tai hại “một Trung Quốc,” bất chấp ý nguyện của người dân Đài Loan.
Ông Đặng Tiểu Bình, người sau này lên cầm quyền ở Trung Quốc, là một nhà chính trị thực dụng và có viễn kiến. Ông khuyến cáo đảng Cộng Sản Trung Quốc giấu mình chờ thời và chính ông là người đưa ra mô thức “một quốc gia, hai chế độ” khi Hồng Kông được Vương Quốc Anh trao trả cho Trung Quốc năm 1997. Ông Đặng muốn dùng trường hợp Hồng Kông – hợp nhất với Trung Quốc về lãnh thổ nhưng tự trị trong 50 năm – như một giải pháp thu hút người dân Đài Loan “trở về” với Trung Quốc lục địa.
Mô thức của ông Đặng có tác dụng.
Quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan ấm lên dưới thời các hai chủ tịch kế nhiệm, ông Giang Trạch Dân và ông Hồ Cẩm Đào. Hàng ngàn nhà tư bản Đài Loan tới Trung Quốc mở nhà máy, xí nghiệp, đóng góp rất lớn vào mức tăng trưởng kinh tế ấn tượng của Hoa Lục. Hàng triệu du khách Trung Quốc sang thăm Đài Loan, tận mắt chứng kiến cuộc sống tự do mà trong nước họ không được hưởng. Năm 1997, Chủ Tịch Hạ Viện Hoa Kỳ Newt Gingrich, cùng chức vụ với bà Pelosi hiện nay, đi thăm Đài Bắc, gặp gỡ Tổng Thống Lý Đăng Huy mà không có vấn đề gì. Hồi đó, ông Gingrich thăm Bắc Kinh trước, rồi Thượng Hải, rồi Tokyo, Nhật, và “từ đây” bay vào Đài Bắc.
Quan hệ êm thắm giữa Bắc Kinh và Đài Bắc lên tới đỉnh điểm dưới thời Tổng Thống Mã Anh Cửu của Đài Loan, khi Quốc Dân Đảng do ông lãnh đạo xóa mối thù truyền kiếp với đảng Cộng Sản Trung Quốc và nối lại quan hệ. Triển vọng thống nhất Đài Loan với Trung Quốc bằng phương thức hòa bình tưởng như chỉ còn là vấn đề thời gian.
Năm 2012, ông Tập Cận Bình được bầu làm lãnh đạo tối cao của Trung Quốc và lập tức đảo ngược đường lối của ông Đặng Tiểu Bình.
Trung Quốc hiện nguyên hình là một đế quốc Cộng Sản hiếu chiến, đầy thủ đoạn thâm độc với mục tiêu duy nhất là trở thành bá chủ thế giới, vượt qua Hoa Kỳ và phương Tây trong mọi lĩnh vực.
Với Đài Loan, triển vọng thống nhất trong hòa bình coi như tan vỡ sau khi ông Tập thẳng tay tước đoạt các quyền tự do dân chủ của người dân Hồng Kông, vứt bỏ mô thức “một quốc gia, hai chế độ” vào sọt rác. Người Đài Loan nhìn cảnh ngộ của người Hồng Kông mà lo sợ. Những chiến dịch cô lập về ngoại giao, chèn ép kinh tế Đài Loan của ông Tập càng làm cho người dân đảo quốc này chán ghét Cộng Sản Trung Quốc và quyết bảo vệ quyền sống tự do của mình. Đảng Dân Chủ Tiến Bộ của nữ Tổng Thống Thái Anh Văn giành thắng lợi áp đảo trong các cuộc bầu cử từ năm 2016 đến nay phản ánh nguyện vọng đó.
***
Dài dòng như vậy để thấy ông Tập Cận Bình đã bỏ lỡ cơ hội thâu tóm Đài Loan trong hòa bình mà chuyển sang sử dụng sức mạnh cưỡng bức và đe dọa. Căng thẳng giữa hai bờ eo biển Đài Loan như vậy là do mưu đồ bành trướng và tư tưởng thượng tôn vũ lực của ông Tập, chẳng phải vì Hoa Kỳ và càng chẳng phải vì bà Pelosi. Căng thẳng Đài Loan chỉ có thể dịu xuống khi nào ông Tập thay đổi quan niệm hoặc một nhà lãnh đạo ôn hòa hơn lên thay thế ông.
Bây giờ thì Trung Quốc thực hiện thao diễn quân sự rầm rộ, khoe khoang vũ khí tân tiến để dọa Đài Loan và Hoa Kỳ. Giới quân sự diều hâu Trung Quốc tin rằng ngày nay Bắc Kinh chẳng cần phải e dè mà phải biểu dương sức mạnh của một cường quốc bá chủ khu vực.
Đáp lại, sáng ngày 5 Tháng Tám, Hoa Kỳ ra lệnh cho nhóm tác chiến hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan túc trực phía Nam Đài Loan, hai tàu đổ bộ tấn công USS America và USS Tripoli túc trực phía Bắc để theo dõi hành tung của quân đội Trung Quốc. Lịch sử dường như đang lặp lại, một cuộc chiến tranh kiểu “bẫy Thucydides” đang cận kề hơn bao giờ.
Có điều, cuộc chiến đang diễn ra ở Ukraine chứng tỏ trong thế giới ngày nay các nhà độc tài không thể tùy tiện sử dụng súng đạn để áp đặt ý muốn bành trướng của mình. Đánh Đài Loan, Trung Quốc sẽ mất nhiều hơn là được, và hành động diễu võ giương oai của ông Tập chẳng qua là để thỏa mãn tâm lý dân tộc chủ nghĩa của dân chúng trong nước hơn là để gây ra một cuộc xung đột quân sự thực sự mà hậu quả sẽ rất thảm khốc cho cả thế giới. [đ.d.]



























































































