Cựu Kỵ Binh Vũ Đình Lưu và những trận chiến hồi Tháng Tư, 1975

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Cựu Kỵ Binh Vũ Đình Lưu sinh năm 1946 tại quận Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, thuộc vùng duyên hải miền Trung.

Cựu Đại Úy Vũ Đình Lưu (thứ tư từ phải) và các thương phế binh VNCH tại Sài Gòn năm 2025. (Hình: Vũ Đình Lưu cung cấp)

Năm 1968, trong lúc đang dạy học trường trung học tư thục Lê Bảo Tịnh, Sài Gòn, thì ông nhận lệnh tổng động viên. Ông nhập ngũ Tháng Tư, 1968, Khóa 2/68 Trừ Bị Thủ Đức.

Giai đoạn 1 ông học căn bản quân sự tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ba tháng, và giai đoạn 2 ở Trường Bộ Binh Thủ Đức ba tháng.

Khóa 2/68 Trừ Bị Thủ Đức có khoảng 2,000 Sinh Viên Sĩ Quan. Phân nửa được thụ huấn ở Quân Trường Thủ Đức, và số còn lại thụ huấn tại Quân Trường Đồng Đế, Nha Trang.

Đây là khóa sĩ quan đầu tiên có tại Trường Đồng Đế Nha Trang. Tất cả các Sinh Viên Sĩ Quan Khóa 2/68 của hai quân trường đều ra trường khoảng cuối Tháng Chín, 1968.

Sau đó tân Chuẩn Úy Vũ Đình Lưu được thụ huấn Khóa 23 Căn Bản Thiết Giáp trong khuôn viên Trường Bộ Binh Thủ Đức. Đầu năm 1969, ông ra trường Thiết Giáp.

Năm 1970 sau khi tham gia chiến dịch Toàn Thắng 42 tại Cambodia thì đầu năm 1971, ông được đặc cách thăng cấp trung úy và được làm chi đoàn phó Chi Đoàn 2/5 Thiết Kỵ thuộc Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh trực thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh đóng quân tại Long Khánh.

Sau khi đồn Xà Bang được giải tỏa

Những chiến sĩ anh hùng xuất thân từ Quân Trường Đồng Đế làm sao quên được hai câu thơ, “Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ/Em nằm xõa tóc đợi chờ anh.” Nhưng, chiến tranh quê mẹ binh lửa ngút ngàn, có biết bao nhiêu cô gái đang xõa tóc đợi chờ, và biết bao giờ các anh sẽ trở lại khi hát lên bài anh hùng ca “Anh hùng tử, khí hùng nào tử.”

Kỵ Binh Vũ Đình Lưu (trái) trên xe Jeep chỉ huy trong cuộc chiến Việt Nam. (Hình: Vũ Lưu cung cấp)

Dưới ánh nắng hoàng hôn vàng nhạt, yếu ớt của một ngày sau Tháng Ba, 1973, cũng là lúc Hiệp Định Paris được ký kết gần hai tháng, các chiến sĩ của Chi Đoàn 2/5 Thiết Kỵ đứng nghiêm trên các Thiết Mã M-113 đưa tay chào lần cuối. Chào để tiễn đưa đoàn xe hai mươi chiếc GMC và Hồng Thập Tự, nối đuôi nhau rời tiền đồn Xà Bang xuôi về Bình Giã, Bà Rịa.

Đoàn xe mang theo những chiến sĩ và những người vợ dũng cảm kể cả những đứa con thơ ngây của một đại đội Địa Phương Quân. Đa số bị thương hoặc tử vong sau sáu ngày đêm ròng rã tử thủ tại đồn Xà Bang. Trong đoàn xe này có cả những chủ lực quân VNCH bị thương vong trên đường giải cứu, và một số Cộng Quân bị thương nặng.

Sau chiến thắng giải tỏa tiền đồn Xà Bang thuộc quận Đức Thạnh, đầu Tháng Ba, 1973, Trung Úy Vũ Đình Lưu được đặc cách tại mặt trận lên hai cấp: Đại úy, kiêm chi đội trưởng Chi Đội 2/5 Thiết Kỵ, với sự đề nghị thăng cấp của Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 BB; Đại Tá Trần Bá Thành, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 48BB; và Trung Tá Huỳnh Bửu Sơn, tỉnh trưởng Phước Tuy.

Sau đó, Chi Đoàn 2/5 Thiết Kỵ tham gia các cuộc hành quân chung với các trung đoàn của Sư Đoàn 18 BB, và các đơn vị bạn như Biệt Động Quân và Nhảy Dù trong lãnh thổ Quân Khu III, tham chiến với Trung Đoàn 43 và 48 thuộc Sư Đoàn 18 BB tại vùng núi Chứa Chan, tại ngã ba Ông Đồn vào Tháng Giêng và Tháng Hai, 1975. Các cuộc hành quân này nhằm tiếp cứu quận Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy, tham chiến với Trung Đoàn 52 trên Quốc Lộ 20 từ Định Quán tới Ngã Ba Dầu Giây vào Tháng Ba đến 15 Tháng Tư, 1975 để ngăn chặn sự tiến quân của CSBV đang tiến quan về Biên Hòa và Sài Gòn.

Lực Lượng Đặc Nhiệm 52 được thành lập

Sau khi chiếm Tây Nguyên, đại binh CSBV gồm hàng chục sư đoàn bộ binh cùng chiến xa và trọng pháo yểm trợ đã lần lượt chiếm các tỉnh miền Trung và tiếp đến Phan Rang, Phan Thiết, Bình Tuy, Lâm Đồng cũng rơi vào tay CSBV.

Giữa Tháng Ba, 1975, quận Định Quán, thuộc Tiểu Khu Long Khánh, bị Sư Đoàn 341 CSBV tràn ngập. Lực Lượng Đặc Nhiệm 52 được thành lập, án ngữ tại xã Túc Trưng, trên Quốc Lộ 20, cách Ngã Ba Dầu Giây 25 km về hướng Bắc, để ngăn chận bước tiến của địch, gồm các đơn vị trực thuộc Sư Đoàn 18 BB, bao gồm Trung Đoàn 52 BB, do Đại Tá Ngô Kỳ Dũng chỉ huy, kiêm chiến đoàn trưởng, gồm có ba tiểu đoàn: Tiểu Đoàn 1/52 BB, tiểu đoàn trưởng là Thiếu Tá Cam Phú; Tiểu Đoàn 2/52 BB, tiểu đoàn trưởng là Đại Úy Huỳnh Văn Út; và Tiểu Đoàn 3/52 BB, tiểu đoàn trưởng là Thiếu Tá Phan Tấn Mỹ.

Trong khi đó, Trung Tá Trần Văn Nô, thiết đoàn trưởng Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh; Đại Úy Lê Đức Việt, chi đoàn trưởng Chi Đoàn 1/5 Chiến Xa; Đại Úy Vũ Đình Lưu, chi đoàn trưởng Chi Đoàn 2/5 Thiết kỵ; và Đại Úy Lê Sơn ở Xuân Lộc với Chi Đoàn 3/5 Thiết kỵ cùng với Trung Đoàn 48 BB và Tiểu Đoàn 182 Pháo Binh. Lực lượng tăng phái bao gồm Công Binh, Trung Đội Hỏa tiễn TOW, toán Tiền Phương 183 Quân Y của Bác Sĩ Nam, một tiểu đoàn Địa Phương Quân và Nghĩa Quân thuộc Tiểu Khu Long Khánh.

Cựu Đại Úy Vũ Đình Lưu (phải) và Đại Úy Phạm Hữu Phước tại Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh 2025 ở Little Saigon. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Lực Lượng Đặc Nhiệm 52 được thành lập nhằm ngăn chặn đại binh CSBV đang tiến quân và tấn công dữ dội về hướng Nam Biên Hòa đến Sài Gòn. Chiến trường khốc liệt máu lửa của những ngày trong Tháng Tư, 1975 là ở địa danh Ngã Ba Dầu Giây, cũng là giao điểm của Quốc Lộ 1 và Quốc Lộ 20 cách thị xã Xuân Lộc 12 km về hướng Tây.

Túc Trưng, Kiệm Tân, và Gia Kiệm là vùng đất đỏ miền Đông trù phú, với vườn cao su bạt ngàn và ruộng rẫy xanh tươi. Cư dân phân nửa là công nhân cạo mủ cho đồn điền cao su, và xen kẽ là những rẫy cà phê xanh tươi bát ngát, những vườn sầu riêng, chôm chôm, xoài và các loại trái cây khác của nông dân bản địa. Họ là những người miền Bắc di cư năm 1954. Sau bao năm dài thanh bình thịnh vượng của miền Nam tự do, nay lại phải tức tưởi gồng gánh lánh nạn Cộng Sản một lần nữa.

Ông Vũ Đình Lưu nhớ lại: “Trước mắt tôi, dọc theo Quốc Lộ 20 xuôi về hướng Biên Hòa, Sài Gòn cả đoàn người chạy giặc bằng mọi phương tiện từ thô sơ đến cơ giới. Chiếc xe gắn máy hai bánh phải chở đến bốn năm người nheo nhóc trẻ con. Chiếc xe lam cong cả nhíp với bao người đu bám xung quanh. Xe bò, xe trâu, xe thồ tấp nập di chuyển về một chiều. Tất cả cùng một hướng xuôi Nam, nơi họ tin tưởng rằng còn là phần đất tự do được những người lính VNCH bảo vệ, che chở. Trên tất cả mọi khuôn mặt từ những ông bà già đến đứa trẻ con đều lộ vẻ hốt hoảng, nặng trĩu lo âu không biết chuyện gì sẽ xảy ra cho gia đình họ trong những ngày sắp tới.”

Những trận chiến trong Tháng Tư, 1975.

Ngày 19 Tháng Ba, 1975, trời vừa tối, một trung đoàn của Sư Đoàn 341 CSBV tấn công vào đồn Địa Phương Quân ở cầu La Ngà thuộc Chi Khu Định Quán, tỉnh Long Khánh. Lực lượng trú phòng có một tiểu đoàn trừ bị (không đủ quân số) và một Chi Đội Thiết Vận Xa M-113, thuộc Chi Đội 2/5 Thiết Kỵ bảo vệ cầu La Ngà, nằm trên Quốc Lộ 20 cách Ngã Ba Dầu Giây 29 km về hướng Bắc.

Ông Lưu kể: “Địch pháo kích ác liệt suốt đêm và sau đó tấn công biển người. Rạng sáng, Thiếu Úy Nho, chi đội trưởng Thiết Kỵ, báo cáo cho tôi là hai xe M-113 bị cháy và hai xe bất khiển dụng, vì bị hỏa lực sơn pháo 82 ly và B40 của địch bắn đứt xích. Còn đồn Địa Phương Quân thì đang bị địch cận kề. Tôi ra lệnh cho Thiếu Úy Nho dùng hết hỏa lực chống trả và trang bị cá nhân bằng súng M16, lựu đạn, và rút lui bằng đường rừng, bằng cách đi bộ dọc theo cánh rừng chồi xuôi về phía Túc Trưng nơi có quân bạn.”

Trong trận chiến này, Thiếu Úy Nho cũng đã dụ địch bằng hai M-113 bất khiển dụng. Ông ra lệnh cho anh em binh sĩ dùng dây thun cột mỏ vịt hai trái lựu đạn rồi rút chốt bỏ vào thùng xăng, một lúc sau hai chiếc M-113 cháy nổ dữ dội. Hơn nửa giờ, Chi Đoàn 2/5 Thiết Kỵ đến bắt tay với Chi Đội Thiết Giáp và một trung đội Địa Phương Quân đang trở về Túc Trưng. Riêng phần Chi Đội Thiết Kỵ thiệt hại bốn xe M-113 và năm chiến sĩ hy sinh và bị thương, trong đó có Trung Sĩ Mai Văn Vi, một phân đội trưởng can đảm, xuất sắc và hai Kỵ Binh tử trận.

Ngày 5 Tháng Tư, 1975, địch bao vây thị xã Xuân Lộc

Ngày 5 Tháng Tư, 1975, địch bao vây thị xã Xuân Lộc. Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh được lệnh rút về Long Khánh để tăng cường phòng thủ Xuân Lộc. Chỉ còn Chi Đoàn 2/5 Thiết Kỵ và một chi đội chiến xa M41 của Chi Đoàn 1/5 Chiến Xa ở lại tiếp tục tăng phái cho Lực Lượng Đặc Nhiệm 52 (LLĐN 52).

Những loại Thiết Giáp mẫu được cựu Đại Úy Vũ Đình Lưu sưu tầm. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Cầu La Ngà đã bị chiếm, áp lực của địch rất nặng nề với khoảng cách chỉ còn 9 km từ cầu La Ngà đến Túc Trưng, nên ngày 8 Tháng Tư, 1975, LLĐN 52 lui binh về hướng Nam lập căn cứ dã chiến tại ấp Nguyễn Thái Học, nằm trên Quốc Lộ 20 cách Ngã Ba Dầu Giây 3 km về hướng Bắc. Đây là một ấp nhỏ, chung quanh là vườn cao su bạt ngàn. Dân cư phần lớn là phu cạo mủ của đồn điền, một số nhỏ là nông dân làm các rẫy cây ăn trái ven lộ. Hầu hết dân chúng đã di tản khỏi ấp khi thấy chiến trận sắp bùng nổ.

Ngày 9 Tháng Tư, 1975, Quân Đoàn 4 của CSBV bắt đầu mở cuộc tấn công vào thị xã Xuân Lộc với cường độ khốc liệt tiền pháo hậu xung.

Ngày 11 Tháng Tư, 1975, Tiểu Đoàn 2/52 BB tăng cường bảo vệ Xuân Lộc. Thời điểm này, LLĐN 52 chỉ còn hai tiểu đoàn bộ binh, nhưng Tiểu Đoàn 1/52 quân số tham chiến bị hao hụt nhiều từ Định Quán đến Dầu Giây, trong khi đó Chi Đoàn 2/5 Thiết Kỵ và chi đội chiến xa M41, Đại Đội 52 Trinh sát, Tiểu Đoàn 182 Pháo Binh, Công Binh và đơn vị hỏa tiễn TOW đang đối diện với Sư Đoàn 341 CSBV được chiến xa xung kích tăng cường và pháo binh tầm xa yểm trợ.

Mặt trận Xuân Lộc bùng phát

Ông Lưu cho biết thêm: “Ngày 12 Tháng Tư, 1975, Chi Đoàn 2/5 Thiết Kỵ và một đại đội của Tiểu Đoàn 1/52 không đủ quân số hành quân mở rộng phòng tuyến an ninh xuống Ngã Ba Dầu Giây. Chi đoàn băng qua vườn cao su di chuyển lên hướng Đông, Long Khánh, dọc theo phía Nam Quốc Lộ 1 cạnh khu nhà Tây, thuộc ấp Trần Hưng Đạo, dân địa phương còn gọi là ấp 97, cách Ngã Ba Dầu Giây 2 km. Bất ngờ đụng phải lực lượng của Trung Đoàn 33 Bình Giã của Việt Cộng đang phòng thủ kiên cố, cuộc giao tranh rất là quyết liệt sau hơn nửa giờ, một thiết vận xa M-113 của Thiếu Úy Sơn bị bắn cháy. Thiếu Úy Sơn thoát thân ra ngoài với thân thể đầy lửa.”

Phía Nam của đội hình chi đoàn, xe M-113 của Thiếu Úy Đỗ Chinh Chiến cũng trúng đạn. Thiếu Úy Chiến và Binh Nhất Chu Viết Thành hy sinh. Tuy vậy, kỵ mã sắt vẫn còn khả năng tác chiến dưới sự điều động của Trung Sĩ Hiếu, một hạ sĩ quan hành quân dày dạn kinh nghiệm, mặc dù đã bị thương, nhưng vẫn vừa bắn trả vừa lui lại phía sau. Sau nhiều giờ giằng co, chi đoàn lùi về hướng Ngã Ba Dầu Giây và bố trí phòng thủ đêm trong rừng cao su tại đây.

Ông Vũ Đình Lưu bùi ngùi kể: “Suốt đêm tôi không thể chợp mắt được vì phía xa, hàng trăm ánh đèn soi sáng chập chờn. Tôi bảo anh thiếu uý của tiền sát viên Pháo Binh, xin pháo khai hỏa. Khi nghe tiếng ‘depart’ pháo thì ánh sáng đèn tắt, sau loạt pháo địch lại tiếp tục soi đèn. Tôi bồn chồn đi vội lại xem tình hình anh em hy sinh và bị thương. Tổng kết ngày hôm đó, đồng đội chúng tôi có ba tử trận và ba bị thương. Bên phía Bộ Binh có hai chiến sĩ tử trận và bốn bị thương, nằm rải rác trong các xe.”

Quỳ xuống gốc cây cao su, Đại Úy Lưu làm dấu thánh giá và cầu nguyện cho linh hồn các tử sĩ sớm về chốn bình yên vĩnh hằng. Các anh đã trả nợ nước non, Đại Úy Lưu cầu xin hương linh các anh che chở cho những người còn lại thoát khỏi cơn hiểm nguy đang chập chùng trước mặt. Vĩnh biệt các đồng đội với đôi mắt ngấn lệ.

Nhưng đêm đó địch không đánh, có thể vì chưa biết chính xác vị trí của Chi Đoàn 2/5 Thiết Kỵ.

Ông cho biết thêm: “Ngày 13 Tháng Tư, 1975, lực lượng chúng tôi lại lùi về hướng căn cứ Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn Lực Lượng Đặc Nhiệm ở ấp Nguyễn Thái Học và tái bố trí phòng thủ trong rừng cao su cách căn cứ 1.5 km, cạnh Quốc Lộ 20. Đến trưa, chúng tôi lại hứng pháo của địch từng chập, đạn nổ khắp nơi, xung quanh, trên đầu, những cành lá cao su và miểng đạn bay tung tóe. Hạ Sĩ Thảo, hiệu thính viên truyền tin ngồi trong pháo tháp của chiếc M-113 chỉ huy, bị miểng pháo xuyên qua cổ, rơi xuống và ngã gục trên người tôi, toàn người tôi nhuộm máu.” [đ.d.]

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT