Chu Dũng Sĩ/Người Việt
LITTLE SAIGON, California (NV) – Sau khi tham chiến tại Nam Lào, phi công Chung Tử Bửu thành hôn trong thời chiến tranh.

Cưới vợ trong thời chiến tranh
Khi ông Bửu về Sài Gòn, thưa với mẹ của mình về vấn đề ông muốn cùng Diệp kết hôn. Mẹ ông Bửu buồn lắm, bởi vì ông không cưới vợ trong Đạo. Tuy vậy, mẹ của ông cũng ra Đà Nẵng tới gặp gia đình Diệp.
Ông Bửu nhớ lại: “Hôm ấy, Diệp đang ở Huế vì học chưa xong. Má tôi thấy tấm ảnh treo trên tường chụp nghiêng khuôn mặt mũi dọc dừa thì ưng ý lắm. Bà mẹ của Diệp rất khéo dàn xếp. Bà nói vì má tôi ở xa, nên nhân tiện sắp xếp luôn lễ đính hôn cho đôi trẻ. Bà tính sẵn là ngày 20 Tháng Bảy, 1968, cứ làm đám hỏi cho danh chính ngôn thuận trước đã, còn ngày cưới sẽ tính sau. Má tôi thấy cũng tiện, gia đình Diệp rất đàng hoàng bặt thiệp, nên bà bằng lòng. Tôi như cá bị mắc câu, nhưng cũng bằng lòng với sự dàn xếp của hai gia đình.”
Ngày 20 Tháng Bảy, 1968, tại Đà Nẵng, đám hỏi vừa xong thì mẹ của Diệp đề nghị liền, “Cưới vợ phải cưới liền tay. Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha!” Bà đã xem ngày trước rồi nên đề nghị vào Chúa Nhật, 17 Tháng Mười Một, 1968 sẽ làm lễ cưới. Mẹ ông Bửu bằng lòng nhưng vẫn buồn, vì con trưởng nam làm cho bà xấu hổ với nhiều người trong đạo.
Trước đám cưới một ngày, mọi chuyện chuẩn bị xong. Mẹ ông Bửu ra Đà Nẵng, và ông Bửu gởi mẹ ở trọ tại nhà anh chị Quyền mà ông quen ở An Cựu, lúc nầy họ đã dọn về ở hẳn Đà Nẵng. Thì cũng trong đêm đó, Việt Cộng chiếm ga xe lửa Đà Nẵng. Thành phố ra lệnh giới nghiêm 24/24.
Ông Bửu kể: “Sáng sớm, tôi và anh Châu Lương Cang lái xe quân sự ra khỏi khu cư xá 219 Thanh Sơn, nơi chúng tôi sẽ ở sau khi cưới. Nhưng anh lính Biệt Động Quân đứng gác không cho chúng tôi đi. Trở về nhà, chúng tôi thay quần áo quân nhân rồi chạy trở ra, anh ta vẫn không cho đi. Thôi đành vậy chứ biết sao, chừng nào hết giới nghiêm sẽ tính lại thôi.”
Lúc ông Bửu mặc áo thun ngồi trước nhà nói chuyện với anh Cang và mấy anh khác, thì một chiếc Jeep quân sự tới đậu trước nhà. Đại Úy Nguyễn Bá Quang, anh rể của ông Bửu thuộc Nha Tuyên Úy Tin Lành, nhảy xuống xe nói, “Bữa nay đám cưới của mầy mà mầy còn ngồi đó chơi sao?” Thì ra ông Thiếu Tá Phạm Xuân Hiển là Tuyên Úy của Quân Đoàn I có sự vụ lệnh công tác nên chở anh Quang tới tìm ông Bửu.
Ông Bửu kể lại: “Đến lúc này, tôi có giải thích gì thì ông anh rể vẫn không tin. Tới khi lên xe với anh Quang ra gặp trạm gác, ông mới biết rõ là lính gác không cho tôi đi. Sau đó tôi chỉ cho anh Quang nơi má tôi trọ để rước bà. Khi thả tôi trước cửa nhà Diệp thì bà Mẹ vợ tin dị đoan ngăn không cho vô nhà, vì chưa tới giờ. Tôi đang đứng lơ ngơ thì một xe Jeep quân sự dừng lại, ‘Ủa Luận! (ông Bửu) Mi đứng làm chi đây?’ Người hỏi là anh Trần Thượng Nhơn – con rể Dì Hai. Tôi trả lời, ‘Hôm nay đám cưới em và Diệp, ngay tại nhà nầy.’ Anh Nhơn hỏi: ‘Vậy à! Anh về thay đồ tới kịp không?’ Tôi trả lời, ‘Dạ kịp! Má em cũng chưa tới.’”

“Thì ra anh Trần Thượng Nhơn từ Sài Gòn ra họp đảng phái gì đó. Rồi ông bà Mục Sư Lewis Myers cũng đến được, và còn nhiều thân nhân được xe quân sự đưa đến tận nơi để dự đám cưới của chúng tôi rất tượng trưng và đơn giản vì trong hoàn cảnh chiến tranh,” ông Bửu cho biết thêm.
Ông nói tiếp: “Sau khi mọi thủ tục xong hết, ông hộ tịch quận Hải Châu được xe nhà binh đưa tới để làm sổ sách hộ tịch, người bác của Diệp hơi bất mãn vì không có bàn thờ, lạy lục gì theo nghi lễ Phật Giáo. Vì ba của Diệp quyết định, nếu không cho phép làm lễ cưới ở nhà thờ thì bàn thờ gia tiên cũng phải miễn. Tụi nó lấy nhau chớ có phải nó lấy mình đâu! Vì lệnh giới nghiêm vẫn còn hiệu lực nên xe đưa chúng tôi về khu Thanh Sơn chở theo một bao gạo và một nồi cá kho để ăn tạm, chừng nào yên thì về nhà lại. Mấy bà vợ của Phi Đoàn 219 ở cư xá Thanh Sơn ùa ra xem mặt cô dâu. Cô dâu đâu chưa thấy, chỉ thấy chú rể cong lưng cõng bao gạo vô nhà. Đám cưới của chúng tôi khôi hài như vậy. Những chuyện không thể nào quên.”
Được huấn luyện thành trưởng phi cơ
Đám Cưới ngày 17 Tháng Mười Một, 1968, Đà Nẵng. Vì công tác của quân nhân quá nguy hiểm, cho nên Phi Đoàn 219 phân chia thời khóa biểu như sau: Cứ hai tuần bay rồi về nghỉ một tuần. Ai muốn đi đâu sẽ được cấp sự vụ lệnh cho đi. Hết tuần đó phải trở về đúng ngày để được cắt bay hai tuần khác. Giữa năm 1969, phi đoàn chọn những hoa tiêu phó vững vàng nhất để được huấn luyện đặc biệt sáu tháng. Nhóm ấy phải trở thành những trưởng phi cơ dày dạn kinh nghiệm và lái thật giỏi để đảm nhiệm công tác càng ngày càng nguy hiểm hơn.
Ông Bửu nói: “Tôi được chọn trong số đó. Lý do là các trưởng phi cơ của Phi Đoàn 219 cho tới lúc ấy là hoa tiêu chánh hay trưởng phi cơ của các phi đoàn khác tình nguyện gia nhập, mà chỉ số của họ đã là hoa tiêu chánh hoặc trưởng phi cơ, cho nên có người bay giỏi có người bay rất dở. Hơn nữa, nhiều ông lớn đã… ‘lạnh cẳng.’ Còn ai có đẳng cấp trưởng phi cơ thì phải cắt bay cho họ. Nhưng trong các phi vụ nầy thì sự kém cỏi của họ gây ra nguy hiểm nhiều hơn. Vì vậy phi đoàn quyết định phải huấn luyện những người bay vững vàng và thật giỏi, vì đã quen trong nghề. Trong số sáu người được huấn luyện, tôi được check out trưởng phi cơ đầu tiên, bởi vì tôi vẫn được kể là thằng bay giỏi trong đám ‘cắc ké’ mà cũng dạn dày trận mạc nữa.”
Trong thời gian huấn luyện, Đại Úy Nguyễn Văn Nghĩa, trưởng phòng hành quân thường rủ Thiếu Úy Bửu bay test các phi cơ được sửa chữa xong. Ông truyền hết các ngón nghề mà ông luyện tập được suốt thời bay bổng cho Thiếu Úy Bửu.
Ông Bửu tâm tình: “Phải công nhận Đại Úy Nghĩa bay rất giỏi. Ngón nghề mà ông truyền cho tôi là Forced Landing chạm đất không cần chạy hoặc chỉ lăn tới chừng một thước. Ông Nghĩa giảng giải: ‘Anh phải nhớ rằng nghề của mình là đáp vô các bãi trống rất nhỏ trong rừng. Nếu bị bắn tắt máy, sẽ không có chỗ cho phi cơ xuống tới đất mà còn phải lăn bánh. Bởi vì nó chạy tới chừng hai, ba thước là lủi vô cây lớn rồi. Anh phải tập làm sao khi chạm đất mà không cần phải chạy tới thì mới chắc sống.’ Tôi luyện cách mấy cũng không được như ông. Ông rất thất vọng. Nhưng một hôm khi bay test một mình, tôi thử làm lại thì thành công. Từ đó, các bạn tôi nói, ‘Thằng Bửu làm autoratation như để.’”
Chung Tử Bửu kể: “Đầu Tháng Mười Hai, 1969, vợ tôi sinh con đầu lòng đặt tên là Chung Thị Diệp Thảo. Ôi! con gái tôi là một hài nhi rất đẹp. Tôi không biết những người cha khác thế nào, nhưng từ khi có con, tôi luôn khắn khít với con. Đi đâu xa cũng nhớ nó. Khi được vài tháng tuổi nó trở nên rất xinh xắn, kháu khỉnh. Trong lòng tôi chỉ có hình ảnh con mình, thương lắm.”
Những chuyến công tác tại Kontum
Trên đường biệt phái Kontum, phi công Bửu thường dùng đường bay phía Tây Quảng Ngãi khi trời trong để đến Kontum sớm hơn. Mỗi lần bay như vậy, ông cố ý bay cao ngang qua trên đỉnh núi Ngọc Lĩnh, ngọn núi cao nhất khu vực đó. Sở dĩ ông thích bay như vậy để ngắm cây cối mọc đặc biệt gần đỉnh núi, với cao độ 2598m, tức là hơn 8,500 bộ, thực vật ở đó không thấy ở các vùng thấp. Đường về nhằm mùa mưa thì ông thích đi vòng xuống phía Nam một chút, để khi ra khỏi vùng núi non thì sẽ thấy Sa Huỳnh, Quảng Ngãi.
Trước khi tới khu vực đó, có một thác nước rất hùng vĩ. Thác rất cao có thể tới 400 mét. Mùa khô thì thác biến mất vì không có nước. Nghĩa là cái thác hùng vĩ đó chỉ chảy theo mùa.

Ông nhớ lại: “Một hôm, khoảng cuối năm 1969 đầu 1970, trong một chuyến bay đi rước một toán, lúc đó tôi mới ra trưởng phi cơ và thường chỉ được xếp bay số ba hoặc số bốn. Tức là khi đi thả hay rước toán, mình sẽ không trực tiếp đáp xuống. Chỉ khi nào có nguy hiểm gì đó mà hai chiếc đầu không làm được thì mới tới phiên mình phải nhào xuống làm nhiệm vụ cứu cấp thôi. Khi bị xếp số ba hay số bốn trở lên thì gọi là đi lòng thòng. Hôm ấy là lần đầu tiên tôi bị súng phòng không 23 ly bắn. Súng phòng không 23 ly rất lợi hại, bởi vì nó bắn đạn dây.”
Thường súng phòng không 37 ly bắn từng bốn viên thành bốn cụm khói. Đạn phải được set sẵn sẽ nổ ở cao độ nào đó. Khi nổ nó là một cụm khói đen. Cụm khói đen ấy hóa trắng rồi mới tan biến. Nhưng trước khi nó tan biến thì đám khói đó chảy lòng thòng, cho nên, bị 37 ly bắn rất dễ biết.
Ông cho biết thêm: “Mình thấy nó bắn tầm nào thì hoặc là mình vọt lên cao hơn hoặc sà xuống thấp thì nó không bắn trúng được. Nhưng thằng 23 ly thì bắn đạn dây cho nên rất nguy hiểm, vì khi đạn nổ lần thứ hai trên trời cũng ra khói đen rồi hóa trắng và tan ngay tức khắc. Vì thế, rất khó định tầm bắn của phòng không 23 ly. Hôm bị nó bắn, tôi biết mình được bàn tay thần diệu bảo vệ. Vì tôi chỉ thấy bên trái của mình cách chừng ba-bốn thước thôi, một tràng rất dài nổ lụp bụp, lụp bụp. Ngay lập tức tôi quặt sang bên mặt và lao xuống thung lũng để nó không bắn theo được vì bị vướng rừng, vướng núi và vướng đồi. Nó không có thể bắn khi mình lao xuống thung lũng, rồi lại vọt lên trời cao.”
Tới khi ông Bửu khám phá ra chỗ đặt súng phòng không 23 ly, ông chỉ điểm cho phi cơ quan sát OV-10 cho họ thấy khẩu súng rồi ông tránh ra xa. Ông thấy mấy chiếc A1 nhào xuống thả bom trúng cây súng văng lên cao. Nhờ vậy mà diệt được ổ súng rồi mới cứu được toán biệt kích đang bị vây. [dt]
(còn tiếp)




















































