GARDEN GROVE, California (NV) – Trưa Chủ Nhật, 31 Tháng Ba, 2019, tại tư gia của ông Trương Trí, cựu sinh viên sĩ quan (SVSQ) thuộc ĐĐ1, ở Garden Grove, đã diễn ra buổi họp mặt thân mật kỷ niệm 55 năm từ ngày ra trường của những cựu SVSQ Khóa 16 trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.
Với không gian là một tư gia, nên buổi họp mặt mang tính chất “thu hẹp” không quảng bá rộng rãi, tuy thế vẫn có hơn 20 cựu sinh viên sĩ quan đồng môn đến tham dự.
Đặc biệt, có sự tham dự của Đại Tá Lê Bá Khiếu, xuất thân từ Khóa 4 và chức vụ cuối cùng là tỉnh trưởng Quảng Ngãi. Riêng Đại Úy Vũ Huy Thám (bút danh Huy Vũ), K16 hiện ở tiểu bang Michigan do không đích thân đến được nên ông gửi tặng mỗi người tham dự hai tác phẩm của ông: Bằng tiếng Việt là cuốn tạp luận “Quê Tôi Nỗi Buồn Còn Đó” viết về hiện tình đất nước; bằng Anh Ngữ là cuốn “The Serious Crimes of Ho Chi Minh and The Vietnamese Communist Party Against The Vietnamese People” với lời nhắn rằng sở dĩ ông phải viết một cuốn bằng Anh Ngữ nhằm dành tặng cho thế hệ con cháu những hiểu biết về một quê mẹ dưới ách Cộng Sản.
Nhà văn Huy Phương, một thành viên trong ban tổ chức, cho biết việc họp mặt năm nay chỉ tổ chức ở tư gia vì “các cụ chiến hữu” của ông hầu hết đã hơn 80 tuổi, việc đi lại khó khăn, sức khỏe mỗi ngày mỗi suy giảm. Nếu tổ chức tại nhà hàng hoặc nơi công cộng sẽ rời rạc, khó tạo dựng một không khí đầm ấm và tình chiến hữu cần có của những bạn đồng môn.
Quả vậy, nhìn những mái đầu bạc phơ, những khuôn mặt da trổ đồi mồi nắm chặt tay nhau, kề đầu sát vai hàn huyên tâm sự mới thấy rằng đối với họ, còn được gặp mặt nhau lần nào là còn mừng lần đó. Nhà văn Huy Phương nói đùa cứ coi như buổi gặp mặt cuối cùng, như ngày xưa mỗi lần người lính chào cờ trước khi xuất trận đều tự coi như chào cờ lần cuối.

Ông Nguyễn Xuân Hùng được xem như người đại diện của các khóa sinh năm xưa, nay vẫn thu thập địa chỉ từng người bạn để gìn giữ mối dây liên lạc, để thăm hỏi, cổ vũ nhau hoặc tương trợ lẫn nhau trong tình huynh đệ.
Được biết, so với các khóa khác, Khóa 16 là một khóa khá đặc biệt: Theo nhu cầu chiến cuộc, Khóa 16 kéo dài gần một năm với ba tháng bổ túc về kế hoạch Phát Triển Bình Định Nông Thôn; bảy SVSQ và hai Sĩ Quan Huấn Luyện Viên Tác Xạ-Vũ khí Mìn chết trong khóa học vì một tai nạn súng cối; trải qua hai biến cố 1 Tháng Mười Một, 1963, và chỉnh lý Tháng Giêng, 1964.
Khóa 16 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức nhập học vào cuối Tháng Sáu, 1963, ra trường vào Tháng Sáu, 1964. Sở dĩ khóa học kéo dài hơn những khóa thường lệ ba tháng vì theo nhu cầu mới tại các địa phương, các SVSQ Khóa 16 thụ huấn thêm một thời gian về các công tác hành chánh để đảm nhận công tác “phụ tá hành chánh” cho các quận trưởng.

Khóa 16 đã được theo học các chương trình do trường Quốc Gia Hành Chánh phối hợp với Bộ Nội Vụ và quốc phòng soạn thảo. Sau khi ra trường, 80% sinh viên sĩ quan tốt nghiệp được đưa về phụ tá các quận. Tuy vậy vì cấp bậc quá thấp (chuẩn úy so với cấp bậc thông thường của một quận trưởng là đại úy, cùng các sĩ quan khác trong chi khu), sĩ quan tốt nghiệp Khóa 16 chỉ đảm nhận các công tác không quan trọng do quận trưởng chỉ định, và sau đó lần lượt trở ra đơn vị tác chiến hay bổ nhiệm cho các ban, phòng.
Trong thời gian thụ huấn ở quân trường, Khóa 16 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức đã trải qua những biến cố chính trị lớn của miền Nam như phong trào đấu tranh của Phật Giáo bùng phát vào Tháng Ba, 1963; cuộc đảo chánh 1 Tháng Mười Một do Tướng Dương Văn Minh cầm đầu, cuộc chỉnh lý vào cuối Tháng Giêng, 1964, do Tướng Nguyễn Khánh tổ chức.
Do tình hình chính trị lúc bấy giờ, chỉ trong vòng một năm, Khóa 16 Thủ Đức có đến ba vị chỉ huy trưởng là Đại Tá Phan Đình Thứ tự Lam Sơn (trước 1 Tháng Mười Một, 1963 – không ủng hộ việc giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm), Thiếu Tướng Trần Ngọc Tám và Thiếu Tướng Bùi Hữu Nhơn sau đó.
Cũng cần nhắc lại, trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức hay còn gọi là trường Bộ Binh Thủ Đức (đầu tiên ở Thủ Đức, đến cuối năm 1973 thì chuyển đến Long Thành) là một trong năm trường đào tạo sĩ quan cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Bốn trường còn lại là trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, trường Huấn Luyện Không Quân Nha Trang, trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang và trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt. Trường Thủ Đức hoạt động từ năm 1951 đến năm 1975.

Từ Khóa 1 đến Khóa 5, tốt nghiệp với cấp bậc thiếu úy. Thiếu úy sau hai năm được thăng cấp trung úy. Từ Khóa 6, tốt nghiệp với cấp chuẩn úy. Đầu Tháng Hai, 1955, trường gián đoạn do ảnh hưởng của Hiệp Định Genève ngày 20 Tháng Bảy, 1954, trong điều khoản giảm trừ quân bị. Cuối Tháng Hai, 1957, trường tái hoạt động và được cải danh thành Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức.
Năm 1962, huy hiệu của Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức là ngọn lửa hồng bao quanh thanh kiếm bạc trong nền xanh và châm ngôn “Cư An Tư Nguy” (có nghĩa là muốn sống yên ổn thì phải nghĩ đến lúc hiểm nguy. Suy rộng ra: “Muốn Hòa Bình phải chuẩn bị Chiến Tranh”) do sáng kiến của Đại Tá Phan Đình Thứ (Lam Sơn), chỉ huy trưởng của trường.
Ngày 1 Tháng Tám, 1963, trường lấy lại danh hiệu cũ lúc ban đầu là trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Năm 1964, trường lãnh thêm nhiệm vụ đào tạo các cán bộ đại đội trưởng và tiểu đoàn trưởng (theo chương trình học, khi mãn khóa được cấp văn bằng tốt nghiệp Đại Đội Trưởng hoặc Bộ Binh Cao Cấp). Cũng kể từ năm này các thanh niên động viên vào sĩ quan trừ bị phải có văn bằng tú tài 1 trở lên hoặc chứng chỉ tương đương.
Ngày 1 Tháng Bảy, 1964, trường được cải danh thành trường Bộ Binh Thủ Đức. Trong thời gian hoạt động 1951-1975, trường Thủ Đức đã đào tạo hơn 80,000 sĩ quan trong đó khoảng 4,000 sĩ quan đặc biệt.
Nghe lại câu chuyện khi các vị gặp gỡ hàn huyên mới thấy tình chiến hữu của họ rất đậm đà dù thời gian và bao thăng trầm đã trải qua. Như vậy, 55 năm sau khi ra trường, những khóa sinh Khóa 16 ngày xưa đã phục sự trong quân đội VNCH ở đủ mọi ban ngành. Nhiều người đã hy sinh xương máu tại chiến trường khốc liệt. Hầu hết họ phải trải qua nhiều năm trong trại tù sau chiến tranh, một số người vượt biên tìm tự do, một số khác đến Hoa Kỳ theo chương trình H.O.
Tháng Tư Đen lại đến, bao hồi ức về một thuở chinh chiến hẳn sẽ khiến lòng những cựu quân nhân bồi hồi. Bốn mươi bốn năm sau cuộc chiến, “người lính VNCH từ giã vũ khí, trút bỏ quân phục lặng lẽ ra đi khắp bốn phương trời. Những tưởng tình nghĩa chiến hữu cũng phai lạt theo thời gian. Nhưng nào ngờ chỉ một tiếng gọi, một hồi trống thúc lên, là những người lính cũ lại bốn phương tìm về như buổi họp ngày hôm nay của chúng ta. Điều đó đã nói lên tình nghĩa chiến hữu in sâu trong tâm thức chúng ta.” Đó chính là lời của Đại Tá Lê Bá Khiếu trong một lần gặp gỡ. (Uyên Vũ)
Video: Tin Trong Ngày Mới Cập Nhật
Copyright © 2018, Người Việt Daily News



























































































