Lâm Hoài Thạch/Người Việt
WESTMINSTER, California (NV) – Hội Ái Hữu Cựu Sĩ Quan Hải Quân Các Khóa Lưu Đày và Thân Hữu vừa tổ chức Đại Hội Hải Quân Lưu Đày lần thứ 20 vào chiều Chủ Nhật, 9 Tháng Mười Một, tại nhà hàng Diamond Seafood 3, Westminster, với đông đảo đại diện các hội đoàn, hội cựu quân nhân QLVNCH và đồng hương đến dự.

Điều hợp chương trình hai MC cựu Hải Quân Đinh Quang Tiến và cựu Hải Quân Lưu Văn Lễ.
Trong số quan khách đến dự có sự hiện diện của cựu Hải Quân Trung Tá Nguyễn Hữu Phú, nguyên chỉ huy trưởng Căn Cứ Hải Quân Đà Nẵng; cựu Hải Quân Thiếu Tá Lê Công Mừng, nguyên hạm phó Tuần Dương Hạm Trần Nhật Duật-HQ3; cựu Thiếu Tá Hoàng Đoàn, nguyên tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 3/Trung Đoàn 54/Sư Đoàn 1 Bộ Binh; và nhiều người khác.
Các hội đoàn đến dự gồm có Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long Nam California, Hội Hải Quân Việt Nam USN-OCS (The United States Navy Officer Candidate School), Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam California, Hội Cựu SVSQ Trừ Bị Thủ Đức Nam California, các cựu sinh viên sĩ quan Khóa 24 Hải Quân Nha Trang, và nhiều hội khác.
Sĩ quan nghi lễ là cựu Hải Quân Trung Úy Bùi Ngươn Bảy, chào kính các niên trưởng Hải Quân đến dự. Sau đó là nghi thức Cung Nghinh Thánh Kỳ.

MC Lưu Văn Lễ nói: “Đức Thánh Trần Hưng Đạo tên thật là Trần Quốc Tuấn, tước hiệu Hưng Đạo Đại Vương, là một trong những vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam. Ngài được biết đến trong lịch sử là vị tướng lãnh chỉ huy quân đội đã đánh tan ba cuộc xâm lăng của quân Nguyên và quân Mông Cổ dưới thời nhà Trần. Tôn trọng ơn đức và tinh thần uy dũng của ngài, Quân Chủng Hải Quân VNCH đã chọn Đức Thánh Trần Hưng Đạo làm Thánh Tổ của quân chủng này.”
Sau nghi thức khai mạc là “Lễ Tưởng Niệm Các Lưu Đày Đã Quá Vãng” và Lễ Truy Điệu các anh hùng tử sĩ.
MC Đinh Quang Tiến nói: “Kể từ ngày nhập ngũ vào năm 1969, gia đình Lưu Đày của chúng tôi đã mất đi khoảng chừng 100 anh em, trong số này có ít nhất là 24 anh em đã hy sinh vì tổ quốc, phần nhiều trên các chiến trường sông ngòi. Riêng trường hợp cố Hải Quân Trung Úy Lê Văn Đơn, anh là một trong 74 chiến sĩ Hải Quân đã anh dũng hy sinh trong trận hải chiến chống ngoại xâm tại quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974.”

“Trung Úy Đơn bị tử thương trong khi chỉ huy toán Xung Kích Người Nhái đổ bộ lên đảo Quang Hòa. Ngoài ra, chúng tôi còn có ba anh em đã nằm xuống trong các trại cải tạo, và bảy anh em chết trên đường vượt biển tìm tự do, sau ngày quốc nạn 30 Tháng Tư, 1975. Và trong số 66 anh em còn lại thì người trước, người sau cũng đã vĩnh viễn ra đi theo quy luật ‘sinh-lão-bệnh-tử’ của đời người,” ông nói thêm.
Theo ban tổ chức, trong khoảng thời gian gần đây, đã có thêm 16 cựu Hải Quân Lưu Đày ra đi vĩnh viễn trên xứ người.
Ông Nguyễn Duy Thành, hội trưởng, và ông Nguyễn Thái Nhiên, trưởng ban tổ chức, đặt vòng hoa tưởng niệm các thành viên trong gia đình Lưu Đày đã quá Vãng.

Sau đó, ban tổ chức thân mời hai bà quả phụ Võ Hồng Phúc, từ Houston, Texas, đến, và bà Lê Đình Lợi, từ San Jose, California, đến, đại diện gia đình Lưu Đày lên niệm hương trước bàn thờ anh hùng tử sĩ quá vãng.
Cựu Hải Quân Trung Úy Nguyễn Thái Nhiên, đại diện ban tổ chức, ngỏ lời chào mừng và cám ơn mọi người đến dự.
Về nguồn gốc của Hội Ái Hữu Cựu Sĩ Quan Hải Quân Lưu Đày và Thân Hữu, cựu Hải Quân Đinh Quang Tiến cho hay: “Sau biến cố Mậu Thân 1968, QLVNCH nói chung và Quân Chủng Hải Quân nói riêng, nhanh chóng thực hiện kế hoạch tăng quân số, nhằm đối phó với cường độ chiến tranh càng ngày càng khốc liệt trước mưu đồ xâm lăng miền Nam của tập đoàn CSBV.”

“Với quân số khoảng chừng 25,000 sĩ quan và đoàn viên vào thời điểm trước biến cố Mậu Thân, Quân Chủng Hải Quân tăng quân số lên dến 40,000 quân nhân, để đáp ứng nhu cầu bảo vệ lãnh hải và đối phó với các cuộc tấn công càng ngày càng khốc liệt trên các mặt trận sông ngòi. Trong phạm vi của kế hoạch này, trong hai năm 1969 và 1970, Quân Chủng Hải Quân VNCH gởi khoảng 600 SVSQ Hải Quân đi thụ huấn căn bản quân sự, và kỹ thuật tác chiến bộ binh tại một số quân trường đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị Bộ Binh. Nhiều nhất là tại Quân Trường Bộ Binh Thủ Đức trong các Khóa 6/69, 1/70, 2/70 và 3/70,” ông cho biết thêm.
Cũng theo ông Tiến, sau khi tốt nghiệp với cấp bậc chuẩn úy, các tân sĩ quan này trở về Quân Chủng Hải Quân, với danh xưng là Sĩ Quan Hải Quân Ngành Chiến Binh. Phần lớn các sĩ quan này được thuyên chuyển đến phục vụ các duyên đoàn hay các đơn vị tác chiến sông ngòi, bao gồm các giang đoàn Xung phong, Ngăn Chặn, Trục Lôi, Thủy Bộ… Còn các sĩ quan có khả năng về kỹ thuật hay các lãnh vực chuyên môn khác, thì được bổ xung cho các đơn vị yểm trợ bờ. Một số sĩ quan có khả năng đặc biệt về chiến tranh bất quy ước thì được thu nhận vào Liên Đoàn Người Nhái, và được đào tạo kỹ lưỡng để thi hành các nhiệm vụ đặc biệt trên các vùng duyên hải và sông ngòi.

Ông Tiến nói tiếp: “Từ đầu năm 1972, các sĩ quan chiến binh được đưa về thụ huấn hải nghiệp trong các Khóa I, II, III, IV, và V Đặc Biệt tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang, hay được xuất ngoại để được huấn luyện cùng với các SVSQ của các Khóa 10, 11 và 12 tại quân trường US Naval OCS ở Newport, Rhode Island, Hoa Kỳ. Sau khi được thụ huấn hải nghiệp, hầu hết các sĩ quan này được thuyên chuyển về phục vụ trên các chiến hạm hay các hải đội Duyên Phòng cho đến ngày quốc nạn 30 Tháng Tư, 1975.”
Cựu Hải Quân Lưu Văn Lễ chia sẻ: “Hai chữ ‘Lưu Đày’ trong cụm từ ‘các Khóa Lưu Đày’ không phải là tên gọi của một khóa huấn luyện quân sự, mà chỉ là những ngôn từ rất thân quen trong dòng kỷ niệm đầu đời quân ngũ của anh em chúng tôi. Hai chữ ‘Lưu Đày’ bắt nguồn từ một vài SVSQ Hải Quân trong nhóm đầu tiên được gởi theo học Khóa 6/69 tại Trường Bộ Binh Thủ Đức. Với đôi chút cường điệu tuổi trẻ lúc đó ở lứa tuổi 18, 19 và 20, các SVSQ trong nhóm này đã dùng hai chữ ‘Lưu Đày’ khi nói về những ngày tháng theo học bộ chiến tại một ngôi trường từng đào tạo biết bao nhiêu thế hệ trung đội trưởng Bộ Binh cho QLVNCH. Trong số đó có nhiều vị đã trở thành danh tướng trong chiến tranh Việt Nam.”
“Nhưng câu chuyện về hai chữ ‘Lưu Đày” của anh em chúng tôi không dừng lại ở cổng trường Bộ Binh Thủ Đức. Sau khi anh em chúng tôi tìm gặp được nhau trong dòng người Việt lưu vong tại hải ngoại, và thành lập một hội ái hữu liên khóa để có chỗ nương dựa tinh thần, các thành viên đầu tiên của hội chúng tôi, với nỗi đau xót về thân phận lưu vong của mình, quyết định dùng hai chữ ‘Lưu Đày’ để đặt tên cho hội,” ông Lễ cho biết thêm.
Trong số những người đến dự, cựu Hải Quân Danh Âu, Khóa 6 Hải Quân OCS, nói: “Tất cả các SVSQ Hải Quân được thụ huấn tại các quân trường Nha Trang, Thủ Đức, hay Hoa Kỳ đều là những sĩ quan của Quân Chủng Hải Quân QLVNCH. Nhưng vì nhu cầu chiến tranh, nên quân đội cần thêm rất nhiều các tân sĩ quan Hải Quân. Vì thế, một quân trường Hải Quân Nha Trang không đủ điều kiện để đào luyện hàng ngàn SVSQ Hải Quân cùng một lúc, nên một số anh em SVSQ Hải Quân chúng tôi được phân phối đi nhiều quân trường khác. Nhưng cuối cùng thì tất cả anh em chúng tôi điều thuộc Quân Chủng Hải Quân QLVNCH, và cùng chung chiến đấu.”
Chương trình văn nghệ rất hào hứng, ca tụng các cựu chiến sĩ QLVNCH, qua các tiếng hát Nguyễn Trọng, Kim Thoa, Giáng Tuyết, Tường Vy, Ngọc Oanh, Hoàng Hữu Hạnh, Ngọc Minh, Khánh Băng, và nhiều tiếng hát của ban văn nghệ Hải Quân Lưu Đày và đồng hương đến dự. [đ.d.]






















































































