Vann Phan/Người Việt
SANTA ANA, California (NV) – Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Lloyd Austin đã thực hiện chuyến viếng thăm Việt Nam trong hai ngày, từ 28 đến 29 Tháng Bảy. Vị bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đã tham dự các cuộc hội đàm chú trọng đến tiến trình chống đại dịch COVID-19 và việc hợp tác quân sự và an ninh giữa hai nước với ba nhà lãnh đạo cao cấp nhất của Cộng Sản Việt Nam, là Chủ Tịch Nước Nguyễn Xuân Phúc, Thủ Tướng Phạm Minh Chính, và Bộ Trưởng Quốc Phòng Phan Văn Giang.

Cu thể, ngoài chuyện Hoa Kỳ tiếp tục giúp Việt Nam chống cơn đại dịch toàn cầu hiện nay qua nghĩa cử tặng cho Việt Nam năm triệu liều thuốc chủng COVID-19, hai bên còn bàn thảo về việc Mỹ cung cấp các tàu Tuần Duyên cho Việt Nam, và đặc biệt là về khả năng một hàng không mẫu hạm thứ ba của Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam để thể hiện mối quan hệ chiến lược chặt chẽ hơn giữa hai nước.
Ước vọng thầm kín của Washington đối với Hà Nội
Các mục tiêu được nêu rõ như trên trong chuyến viêng thăm Việt Nam lần này của một giới chức cao cấp cỡ bộ trưởng Quốc Phòng trong nội các Tổng Thống Joe Biden, dẫu sao, cũng không nói hết được những ước vọng thầm kín của Washington đối với Hà Nội kể từ khi hai nước cựu thù trong chiến tranh bình thường hóa quan hệ ngoại giao hồi năm 1995, thời Tổng Thống Bill Clinton.
Từ ngày đó đến giờ, không có một vị tổng thống Mỹ nào mới nhậm chức, dù thuộc đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa, mà lại không tìm mọi cách đến viếng thăm Việt Nam, bao gồm Bill Clinton, George W. Bush, Barack Obama, Donald Trump, và không chừng cả Tổng Thống Joe Biden, người mới nhậm chức hồi Tháng Giêng năm nay, cũng sẽ gia nhập nhóm các tổng thống Mỹ công du Việt Nam, trong khi đang có tin Phó Tổng Thống Kamala Harris sẽ đến Việt Nam vào Tháng Tám này.
Ngoài ra, vô số giới chức Mỹ từ cấp bộ trưởng trở xuống, kể cả các ngoại trưởng và bộ trưởng quốc phòng, cũng liên tục đến viếng thăm Việt Nam để bàn những chuyện đại sự, đồng thời mang theo nhiều món quà giá trị dành cho nước chủ nhà, từ tiền bạc cho tới những tàu Tuần Duyên, y như một chàng trai đang tỏ ra hết sức hào hoa để chính phục trái tim của giai nhân trong mộng.
Vậy thì, ước vọng thầm kín của Washington đối với Hà Nội là gì?
Thứ nhất, Hoa Kỳ vẫn muốn được Việt Nam nhanh chóng coi mình là “đối tác chiến lược toàn diện” trên bậc thang đối tác, mặc dù vị trí hiện nay của Hoa Kỳ chỉ là “đối tác toàn diện”của Việt Nam, xem ra thì còn thấp so với ước vọng lớn lao của Hoa Kỳ, nghĩa là vẫn còn thua các nước được coi là “đối tác chiến lược” như Nhật, Anh, Pháp… và còn thua xa ba nước Trung Quốc, Nga, và Ấn Độ đang giữ vị thế “đối tác chiến lược toàn diện,” hiển nhiên được liệt vào hàng “cục cưng” của Việt Nam.
Thứ nhì, Hoa Kỳ vẫn muốn được Việt Nam cho thuê Quân Cảng Cam Ranh nước sâu và có tầm chiến lược thiết yếu cho việc canh giữ Biển Đông khỏi trở thành cái hồ nước riêng của Trung Quốc trong nay mai, dựa theo tình hình thực tế trong vùng trước tham vọng bành trướng bá quyền không có gì cản nổi của Trung Quốc. Khổ nỗi, Việt Nam vẫn cương quyết không chịu cho nước nào thuê mướn yếu điểm chiến lược này hết, kể từ sau khi Nga bỏ cuộc nửa chừng hồi năm 2002 vì không đủ tiền tiếp tục thuê bao căn cứ Hải Quân này nữa.
Đặc ân tối đa mà Việt Nam đang dành cho Hoa Kỳ là, lâu lâu, các chiến hạm Mỹ, kể cả hàng không mẫu hạm, được phép ghé thăm Cảng Cam Ranh, trong khi các chiến hạm Mỹ, dù lớn, dù nhỏ, vẫn được phép mở các chuyến thăm “hữu nghị” đến các hải cảng của Việt Nam, đặc biệt Cảng Đà Nẵng.
Thứ ba, Hoa Kỳ vẫn muốn mình là nơi được chọn để huấn luyện các lực lượng quân đội Việt Nam thay vì Nga hay Trung Quốc như hiện nay, chứ không phải chỉ để cho Việt Nam đưa quân nhân đến học tiếng Anh rồi về nước, hoặc là nơi lực lượng tuần tra duyên hải Việt Nam đến học hỏi kỹ thuật điều khiến các tàu Hải Cảnh mà năm nào phía Mỹ cũng tặng không cho Việt Nam, nói là để bảo vệ nền an ninh hàng hải của quốc gia này. Hoa Kỳ đã có vinh dự được Việt Nam và Liên Hiệp Quốc mời làm cố vấn cho các lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế khi Việt Nam khởi sự đảm nhận vai trò Lực Lượng Gìn Giữ Hòa Bình Liên Hiệp Quốc hồi năm 2018.
Thứ tư, mặc dù Việt Nam và Trung Quốc là hai nước Cộng Sản anh em và đồng chí từ hơn bảy thập niên qua, Hoa Kỳ vẫn muốn Việt Nam xa lánh Trung Quốc mà về phe với mình trong cuộc tranh chấp đầy căng thẳng với Bắc Kinh tại Biển Đông khi Hoa Kỳ nghĩ rằng Trung Quốc đang bắt nạt Việt Nam và Hà Nội đang chống lại mọi tham vọng về biển đảo của Bắc Kinh.
Mặc cảm tội lỗi của Hoa Kỳ và các đồng minh vì đã bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa hồi năm 1975
Nhìn cho kỹ, những chuyến viếng thăm Việt Nam cùng những cử chỉ o bế Hà Nội của các vị tổng thống và giới chức của cả Hoa Kỳ lẫn của các quốc gia đồng minh của Washington, trong quá khứ cũng như hiện tại, đều không che giấu được cái mặc cảm tội lỗi của Hoa Kỳ và các nước bạn đồng minh khi họ từng bỏ rơi một cách oan uổng chính phủ và nhân dân Miền Nam Tự Do vào tay Cộng Sản Quốc Tế hồi năm 1975.
Sau cuộc Chiến Tranh Việt Nam, trong khi một số những nhân vật phản chiến nổi bật, cỡ Jane Fonda và Joan Baez, chính thức bày tỏ lòng hối tiếc rằng mình đã hùa theo Cộng Sản Bắc Việt mà chống lại Việt Nam Cộng Hòa, các chính phủ liên tiếp tại Hoa Kỳ vẫn không công khai nhìn nhận sự kiện đó chính là một lỗi lầm chiến lược hết sức tai hại của Hoa Kỳ và Thế Giới Tự Do kể từ sau Đệ Nhị Thế Chiến đến nay.
Thái độ cương quyết của các nước Tây phương (như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Canada…) cùng với các quốc gia vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương (như Nhật, Ấn, Úc…) chống lại tham vọng bành trướng bá quyền của Trung Quốc tại Biển Đông ngày càng cho thấy tầm mức quan trọng sinh tử của một Việt Nam Cộng Hòa, nếu quốc gia này còn tồn tại cho tới ngày nay.
Nhật và Đại Hàn Dân Quốc (Nam Hàn), tuy không phải là các quốc gia chủ trương bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa, đã có những cử chỉ rất hào hiệp với Việt Nam khi nghĩ rằng quốc gia Cộng Sản này đang muốn chống lại tham vọng bành trướng của Bắc Kinh.
Nhật vẫn thường viện trợ tài chánh và làm cố vấn về kinh tế cho Việt Nam, trong khi Đại Hàn thì tặng không cho Việt Nam các tàu Tuần Duyên và đang nhận đóng một số các tàu Tuần Duyên khác cho quốc gia Cộng Sản tại Đông Nam Á này.
Ấn Độ, một đồng minh cũ của Liên Xô, đồng thời cũng là nước luôn luôn về hùa với Cộng Sản Bắc Việt thời Chiến Tranh Việt Nam và nay đang là một đồng minh lớn của Hoa Kỳ trong vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương, đã tỏ ra hết sức thân thiện và hào phóng với Việt Nam qua các món viện trợ quân sự và kỹ thuật cho Việt Nam. Ấn Độ nghĩ rằng Việt Nam là đối tác chiến lược quan trọng trong nỗ lực chống lại tham vọng bá quyền nước lớn của Trung Quốc tại Biển Đông và trên khắp thế giới.
Hải Quân các nước như Pháp, Úc, Nhật… thỉnh thoảng cũng cho tàu ghé thăm các bến cảng tại Việt Nam, từ Cam Ranh và Đà Nẵng cho đến Sài Gòn. Ngoại Trưởng Anh Dominic Raab vừa mới đến thăm Việt Nam trong hai ngày 21 và 22 Tháng Sáu, nói là để gia tăng tầm quan hệ chiến lược đang có với Việt Nam trong bối cảnh cuộc xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc về Biển Đông chẳng hề “hạ nhiệt.”
Tất cả những diễn biến nói trên, tức là những hành động cực kỳ thân thiện và thái độ tận tình o bế dành cho Việt Nam ngày nay, tuy chẳng ai nói ra, chính là chỉ dấu rõ rệt cho thấy trong lòng Hoa Kỳ và một số các quốc gia trên thế giới, dù nhiều hay ít, vẫn cảm thấy mình có lỗi trong việc đích thân hoặc hùa theo các nước khác trong nỗ lực bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa mà chọn Cộng Sản Bắc Việt làm chủ nhân ông của vùng phía Tây Biển Đông.
Hậu quả là bây giờ các quốc gia nói trên đã phải hao công, tốn của, chạy đôn, chạy đáo, và nài nỉ Cộng Sản Việt Nam hãy về phe với mình để chống Trung Quốc tại Biển Đông, nơi có nguy cơ sẽ trở thành cái ao nhà của Trung Quốc trong một tương lai không xa.
Thay lời kết
Sau khi cuộc Chiến Tranh Việt Nam kết thúc, người ta vẫn ưa đề cập tới “Hội Chứng Việt Nam” (“The Vietnam Syndrome”), theo đó Hoa Kỳ cảm thấy mất tự tin vào chuyện họ vẫn còn là một cường quốc có thể cứu khổn, phò nguy cho các nước khác trên thế giới. Nhưng, chẳng bao lâu, cái hội chứng này đã tan biến nhờ Tổng Thống Ronald Reagan nghiêm khắc đe dọa tấn công nước Cộng Hòa Hồi Giáo Iran, khiến nước này phải thả hết các con tin Mỹ mà họ bắt giữ từ Tòa Đại Sứ Mỹ hồi năm 1979, và kế đó là cuộc can thiệp quân sự thành công của Mỹ tại Grenada hồi năm 1983, rồi đến những áp lực kinh tế và chính trị của Mỹ cùng các quốc gia Tây phương dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và Cộng Sản Đông Âu hồi năm 1991.

Điều không mấy ai nhìn nhận là hiện vẫn còn có một thứ “mặc cảm tội lỗi” của Hoa Kỳ và các nước Tây phương sau khi họ đã để mất Việt Nam Cộng Hòa vào tay Cộng Sản Quốc Tế vào hạ bán thế kỷ trước. Lý do của việc không nhìn nhận sự hiện hữu của mặc cảm này chính là niềm tự ái quá cao của giới trí thức Mỹ và thế giới. Từ báo chí truyền thông thiên tả Mỹ cho tới các tay chống Chiến Tranh Việt Nam “thứ dữ,” cỡ Tom Hayden của Hoa Kỳ và Olof Palme của Thụy Điển, không ai có đủ đức khiêm cung và lòng dũng cảm để nhìn nhận mình đã sai lầm khi giúp Cộng Sản chiến thắng tại Việt Nam cả.
Có điều, hiện vẫn chưa ai biết rõ là Việt Nam có thực tình chống lại tham vọng bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông hay không, khi cả hai quốc gia này đang có cùng ý thức hệ Cộng Sản với nhau, nhất là khi những mật ước giữa hai đảng Cộng Sản nắm quyền lực tối cao trong nước, cỡ Mật Ước Thành Đô 1990 về việc Việt Nam sáp nhập vào Trung Quốc, vẫn còn là một bí mật mà các quốc gia bên ngoài không có cách gì biết được nội dung.
Đã thế, tuy Việt Nam thường hăng hái tố cáo Trung Quốc xâm phạm biển đảo của mình nhưng họ lại lặng lẽ nhượng bộ khi tàu chiến hoặc tàu Hải Cảnh của Trung Quốc lấn chiếm nơi này, nơi nọ mà Việt Nam từng tuyên bố có chủ quyền, hoặc bỏ cuộc ngay chứ không tiếp tục khai thác dầu khí tại bất cứ nơi nào trên Biển Đông khi Trung Quốc cấm họ không được xúc tiến. (Vann Phan) [qd]



























































































