Trung Úy Đặng Trần Hoa chiến đấu tới giờ thứ 25 trong cuộc chiến

Văn Lan/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Kể tiếp về tuyến thép Xuân Lộc, cựu sinh viên Đặng Trần Hoa, Khóa 9/68 Trường Bộ Binh Thủ Đức, của binh chủng Truyền Tin không thể nào quên được suốt 12 ngày đêm chận đứng Cộng Sản tiến vào Sài Gòn trong biến cố 30 Tháng Tư, 1975.

Vợ ông Đặng Trần Hoa kể lại hành trình vượt biển tìm tự do khi bà có bầu hơn bảy tháng. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Ông Hoa kể: “Trong trận Xuân Lộc, tôi tổ chức bốn hệ thống truyền tin, với hai hệ thống dự phòng, nếu đài chính tại trung tâm hành quân bị pháo sập thì đã có ngay đài dự phòng tại hậu cứ cách đó khoảng cây số, sẵn sàng tiếp nối không bị đứt đoạn, nhưng chỉ có thể liên lạc được với cấp chỉ huy cao cấp, còn cấp dưới thì phải chờ nối đường dây lại.”

“Việt Cộng lúc đó có hai sư đoàn pháo, gồm khoảng sáu tiểu đoàn pháo nặng và ba sư đoàn bộ binh bao vây Xuân Lộc. Bên ta chỉ có Sư Đoàn 18 Trừ (Sư Đoàn 18-) gồm có hai trung đoàn, tức là thiếu một trung đoàn, lúc đó đang nằm ở Tây Ninh, cùng với một tiểu khu có bốn tiểu đoàn Địa Phương Quân, thêm Tiểu Đoàn 81 Biệt Động Quân do Thiếu Tá Vương Mộng Long di chuyển từ Vùng II về, Lữ Đoàn II Nhảy Dù do Trung Tá Đỉnh chỉ huy, lại có thêm sự yểm trợ của Không Quân Vùng III,” ông kể tiếp.

“Hiện nay nếu tham khảo thêm tài liệu được công bố thì lực lượng Cộng Sản còn đông quân số hơn ta gấp nhiều lần, có cả xe tăng, thiết giáp, nhiều mũi tấn công vào Xuân Lộc. Sư Đoàn 18 Bộ Binh Trừ phải đương đầu với một quân đoàn Bắc Việt. Coi như 1 chống 10,” ông Hoa nhớ lại.

Một chi tiết cần nhắc đến khi ông Hoa cho biết, lúc đó Việt Cộng đã tổng tấn công vào Xuân Lộc ngày 9 Tháng Tư và huênh hoang tuyên bố sẽ tiến vào Sài Gòn trong cùng ngày, nhưng tại sao phải đến ngày 30 Tháng Tư, 1975, mới vào được.

“Câu trả lời rất rõ ràng là nếu không bị Sư Đoàn 18 Bộ Binh chận đứng tại Xuân Lộc thì có thể chúng vào Sài Gòn đúng ngày 9 Tháng Tư. Nhưng vì bị Sư Đoàn 18 Bộ Binh – Tuyến Thép Xuân Lộc đánh chặn lại, giằng co mãi chúng vẫn không qua được cửa ải Xuân Lộc nên Cộng Sản phải chuyển hướng, dùng các cánh quân khác tiến vào Sài Gòn,” ông Hoa nói.

Theo đó, Cộng Sản chia làm nhiều hướng, như Quân Đoàn 3 từ Củ Chi, sử dụng quốc lộ 22 vào Sài Gòn theo hướng Tây.

Tuyến Thép Phòng Thủ “Xuân Lộc” (Long Khánh) 12 ngày đêm ác chiến của Sư Đoàn 18 Bộ Binh. (Hình: Đặc San Sư Đoàn 18 Bộ Binh, số đặc biệt kỷ niệm 30 Năm Hội Ngộ Gia Đình 18)

Quân Đoàn 2 sau khi phá vỡ phòng tuyến Phan Rang, sử dụng quốc lộ 1 đánh bọc bên hông Xuân Lộc, sử dụng quốc lộ 15 để vào Sài Gòn, tấn công tiến chiếm Sài Gòn theo hướng Đông Bắc.

Quân Đoàn 4 bỏ ngõ Xuân Lộc, trở thành trừ bị.

Quân Đoàn 1 từ Thủ Dầu Một sử dụng quốc lộ 1 tiến vào Sài Gòn theo hướng Tây Bắc.

Ba sư đoàn phía Nam, sử dụng quốc lộ 1 tiến nhanh vào Sài Gòn.

“Vì vậy Cộng Sản Bắc Việt loay hoay mãi tới 30 Tháng Tư mới vào được Sài Gòn,” ông Hoa nhớ lại 46 năm về trước.

“Sau 30 Tháng Tư, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo đã về miền Tây, dự tính kết hợp với Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam và Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng để tiếp tục chiến đấu, nhưng bị chặn giữa đường nên không đi được và sau đó hai vị tướng này đã tuẫn tiết nên Tướng Đảo quay về lại Sài Gòn,” ông Hoa nhắc lại thêm một chi tiết nữa của cuộc chiến đấu của Sư Đoàn 18 Bộ Binh đến giờ phút cuối cuộc chiến.

Sư Đoàn 18 Bộ Binh đánh giặc tới giờ thứ 25

Người chiến sĩ truyền tin năm xưa nhớ lại, tối 29 Tháng Tư, 1975,  lúc 12 giờ đêm, Sư Đoàn 18 Bộ Binh được lệnh rút từ Long Bình về tử thủ bảo vệ thủ đô Sài Gòn. Đến cầu Sài Gòn do lực lượng Nhảy Dù trấn giữ không qua được, phải đi vòng ngõ cầu Bình Triệu. Lúc đó hệ thống truyền tin không liên lạc được, đơn vị nào theo đơn vị đó mà tiến.

“Tất cả máy móc truyền tin được mang theo bằng hàng loạt xe GMC. Lúc đó chúng tôi vào đến Sài Gòn vẫn chưa thấy một tên Việt Cộng nào. Đến 7 giờ sáng ngày 30 Tháng Tư, tôi vào đến Cục Truyền Tin đã thấy bỏ trống không, đến khoảng 10 giờ sáng thì lính trực máy cho biết vừa nghe tin Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh bỏ súng đầu hàng,” ông Hoa kể tiếp.

Ông Đặng Trần Hoa (giữa) trong diễn hành Tết Bolsa 2018. (Hình: Văn Lan/Người Việt chụp lại)

“Tôi ra lệnh các chiến sĩ trong Đại Đội Truyền Tin Khai Thác Hành Quân rằng mình không nổ súng, nhưng nếu bên kia nổ súng trước, mình sẽ bắn trả. Nếu cùng đường thì anh em mỗi người sẽ chia lựu đạn cùng chết với địch! Sau đó tôi cho phép anh em mạnh ai nấy tan hàng trong niềm đau xót cùng cực,” ông Hoa xúc động kể.

Ông nhớ lại: “Tôi về nhà gặp vợ con, cho biết có thể tôi sẽ đi về Vùng IV cùng với Thiếu Tướng Đảo, bảo vợ nếu di tản được thì cứ dẫn con đi, nhưng bà ấy dùng dằng không đi được. Đến 11 giờ trưa tôi về tới Vĩnh Hội, gặp bà cô tôi nấu mì gói cho mấy anh em cùng đi ăn đỡ đói. Lúc đó gặp cô y tá chích thuốc cho mẹ tôi, hóa ra cô ta là Việt Cộng nằm vùng. Cô ta nói bà cô cho bọn tôi ăn lẹ lên, vì xe Jeep của tôi có gắn đại liên M60, nếu quân địch vô tới nơi có thể gặp chuyện không hay.”

“Tôi lại chạy qua Ngã Bảy, gặp mẹ tôi đang khóc. Nước mắt người mẹ lúc đó là một tình cảm thiêng liêng khiến tôi không nghĩ được gì cả, chứ nếu bình tĩnh tôi có thể dắt cả nhà tới bến Bạch Đằng di tản cũng còn kịp,” ông nói.

“Nhưng lúc đó tôi vẫn chủ động muốn đi về Vùng IV, mà thực sự đã có một số anh em về đó rồi, tất cả chiến sĩ Sư Đoàn 18 Bộ Binh đều một lòng tử thủ tại Xuân Lộc, nên Sài Gòn có đủ thời gian để di tản. Đó cũng là tính cách quyết chiến đấu tới giờ thứ 25 của vị tư lệnh sư đoàn, mà chúng tôi đều gọi bằng ‘Anh Tư’ một cách kính mến!” ông Hòa nhắc lại những tình cảm của người lính truyền tin năm xưa với vị tư lệnh của mình, khi nhớ lại.

Đời tù

Như bao người khác, sau 1975, ông Đặng Trần Hoa đi trình diện “cải tạo” tại Đại Học Kiến Trúc Sài Gòn với yêu cầu mỗi người mang theo lương thực đủ ăn trong 10 ngày!

“Ở trại tù Hốc Môn hai năm, ăn uống chỉ có cơm và muối, mọi người đều phản đối không ăn. Sau đó chúng phân tán cả trại theo từng nhóm, chuyển đi Phú Quốc, Cà Tum, Pleiku, hoặc trại Long Khánh. Cũng tại Hốc Môn có một nhóm bảy người trốn trại, sáu người vượt thoát được, một người bị bắt lại, bắn chết đem xác phơi lên hàng rào thị uy, đến chiều bọn chúng hạ thi thể xuống, tên chỉ huy chỉ thẳng vào mặt xác chết, tuyên bố ‘Đây là một tên ngụy cực kỳ phản động, đã bị cách mạng trừng trị đích đáng.’ Suốt đời tôi không bao giờ quên cảnh này, khi người đã chết rồi mà vẫn còn bị hận thù, bởi người Cộng Sản luôn nuôi dưỡng hận thù sẵn sàng giết hại đồng loại để đạt mục đích của mình,” ông Hoa kể.

“Năm 1979, ở bốn góc trại Cà Tum có để sẵn bốn cây đại liên M60, chĩa thẳng vào trại canh chừng, đề phòng nếu lính bên Cambodia tấn công sang biên giới Việt Nam, bọn coi tù sẽ bắn chết sạch các tù nhân chúng tôi bị giam trong trại trước khi họ rút lui. Và cũng tại trại này, một vị sĩ quan bị giam trong ngục đã nói trước khi chết sẽ chặt đầu tên quản giáo coi ngục, hôm đó khi các người tù đi ra ngoài lao động, ông đã tìm cách ở lại, chờ khi tên quản giáo vừa bước vô trong trại, ông ấy đã phóng tới chém một nhát bay đầu tên quản giáo,” ông kể tiếp.

Gia đình ông Hoa tại trại tị nạn Palawan năm 1982, để chuyển qua trại Bataan, chờ đi Mỹ. (Hình: Văn Lan/Người Việt chụp lại)

Sau đó khi chiến tranh biên giới Việt Nam-Cambodia nổ ra, các trại dọc biên giới phải chuyển vào nội địa, ông Hoa bị chuyển từ trại Cà Tum về trại Suối Máu.

Lúc đó bà vợ ông lo chạy tiền để ông được thả ra, lo kiếm đường vượt biển. Khi thả ra về nhà, ông lại bị đưa lên nông trường Phù Đổng, Long Thành. Ở đó ông lo cuốc đất trồng trọt kiếm ăn, chờ ngày vượt biển.

Chuyến vượt biển ba lần bảy lượt mới thành công

Chuyến vượt biển tìm tự do sau 1975 không có trường hợp nào giống trường hợp nào, ông Hoa phải trải qua ba năm thất bại, đến chuyến thứ bảy mới thành công.

Khi chuông nhà thờ đổ đêm Noel 1981, cũng là lúc ông Hoa bước chân xuống ghe đi vượt biển tại ấp Cây Điệp, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, là chuyến đi cuối cùng trong nỗi lo sợ khi hai con gái nhỏ của ông giao cho một chiếc ghe đi trước, còn bà vợ ông đang có bầu hơn bảy tháng đi chiếc ghe sau, ông Hoa phải lội sình đẩy ghe ra xa, cho đến khi tới nơi nước dâng lên cao thì ghe mới đi được.

Tổng cộng có hơn trăm người ra đi, nhưng sau đó có một nhóm nhỏ bỏ về bị bắt lại hết, chỉ còn lại 68 người quyết chí đi tìm tự do. Chiếc ghe lớn chở đoàn người vượt biển không có hải bàn, không có bản đồ và tài công, chỉ nhắm sao trời mà chạy miệt mài, có lần gặp tàu Liên Xô và tàu của huyện đội Việt Cộng chạy ngang, trên ghe có phất cờ trắng kêu cứu nhưng họ bỏ chạy luôn! Nỗi lo sợ càng dâng cao khi ghe bị gãy chân vịt, trôi lênh đênh trên biển cả mênh mông, đành phải dùng những tấm bạt kết lại thành buồm nhờ gió thổi mà chạy tiếp.

Chạy lang thang trên biển mênh mông, mọi người bắt đầu tuyệt vọng, may thay khoảng một ngày đêm sau đó, đã thấy bóng dáng một vị cứu tinh xuất hiện khi từ xa, tàu Cap Anamur II tới gần, vớt hết được 68 người trên ghe, đưa về trại Palawan, Philippines. Thời gian sau được chuyển qua trại Bataan, Philippines, để chờ định cư Mỹ.

“Khi lên được tàu Cap Anamur II, tôi rất mừng vì mình đã thoát được địa ngục trần gian. Tôi nghĩ mình ra đi vì tương lai các con, nay phải nỡ lực hết sức mình để làm việc giúp cho con ăn học thành tài. Ngay khi đến California định cư, tôi đã xin vào làm cho báo Người Việt trong 27 năm tại phòng sinh hoạt và bộ phận phát hành,” ông Hoa kể.

Tàu Cap Anamur II, thuộc Hội Bác Sĩ Cấp Cứu Đức, cứu thuyền nhân Việt Nam vượt biển tìm tự do. (Hình: Đặng Trần Hoa cung cấp)

Luôn nhớ nghĩ về các chiến hữu

Nhân đây ông Hoa cũng xin ngỏ lời tri ân đến Hội Bác Sĩ Cấp Cứu Đức; phóng viên Đức, ông Rupert Neudeck; Ủy Ban Một Con Tàu Cho Việt Nam tại Đức; và thuyền trưởng tàu Cap Anamur II đã cứu vớt rất nhiều thuyền nhân Việt Nam, để gia đình ông có được ngày hôm nay, các con ông đều thành tài trên đất Mỹ.

“Hiện trong bốn người con chúng tôi, có người con trai sinh tại đảo Palawan trong chuyến vượt biển, nay được học bổng Bill Gates, đã xong chương trình tiến sĩ về Lịch Sử và Nghệ Thuật, đang điều hành Chương Trình Văn Hóa Thế Giới tại Viện Bảo Tàng Solomon R. Guggenheim, New Jork. Và người con gái tôi sinh ra và lớn lên tại Mỹ đã tốt nghiệp MIT về chỉnh trang đô thị, hiện đang điều hành chương trình xây dựng nhà ở cho người nghèo cho sáu tiểu bang trên nước Mỹ,” ông Hoa hãnh diện nói.

“Nhưng tôi luôn nhớ đến người phụ nữ đã đi cùng với tôi trong suốt cuộc đời, cùng nhau nếm trải chia sẻ ngọt bùi ấm lạnh. Xin cám ơn người vợ hiền đã vất vả lo toan trong cuộc sống, lo cho chồng trong cảnh tù đày, và tất cả sự thành công của các con tôi đều do công lao của người mẹ,” ông Hoa xúc động nói.

Dù đang ở tuổi cao niên, nhưng ông Hoa luôn nhớ nghĩ về các chiến hữu, đồng đội trong Gia Đình 18 năm xưa, nay có người còn người mất. Trong những buổi họp mặt Sư Đoàn 18 Bộ Binh, ông thường kêu gọi đóng góp tài lực và thuốc men cần thiết để gởi về những cảnh đời bất hạnh nơi quê nhà, như một lời chia sẻ của tình đồng đội khi còn chiến đấu vì lý tưởng tự do cho miền Nam thân yêu. (Văn Lan) [qd]

Xem lại kỳ trước: Trung Úy Đặng Trần Hoa, người giữ mạch máu truyền tin trong đơn vị

Ông Đặng Trần Hoa di cư từ Bắc vào Nam năm 1954.

Gia nhập Khóa 9/68 Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Ra trường về làm cán bộ giảng dạy tại Trường Truyền Tin Vũng Tàu.

Về Sư Đoàn 18 Bộ Binh, phục vụ tại Tiểu Đoàn 18 Truyền Tin.

Tham gia trận Bến Cát An Điền và Trận Xuân Lộc. Tham dự 12 ngày đêm tử thủ “Tuyến Thép Xuân Lộc.”

Chức vụ cuối cùng: Trung Úy Đại Đội Trưởng Khai Thác Hành Quân, Tiểu Đoàn 18 Truyền Tin, Sư Đoàn 18 Bộ Binh.

Vượt biển tìm tự do 1981. Hiện về hưu, tham gia các sinh hoạt quân đội.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT