Tù binh Chung Tử Bửu gặp chiến hữu trên đường bị giải ra Bắc Việt 

Chu Dũng Sĩ/Người Việt

LITTLE SAIGON, California (NV) – Sau đó, cứ một tù binh thì giao cho hai lính CSBV canh giữ dẫn đi tới tối mịt đưa vô một cái hầm. Đó là lần đầu tiên ông Bửu bị chui vô hầm chữ A. Trước đó ông Bửu có nghe nói là hầm chữ A mà chưa bao giờ thấy. CSBV làm hầm chữ A bằng cách đào vạt theo triền đất trên sườn đồi, rồi chặt nhiều khúc cây gỗ cỡ bằng bắp chuối chân hoặc bằng bắp đùi, có một cây đà gác ngang, gỗ sắp hai bên châu đầu lại thành chữ A, sau đó lấp đất lên trên, chỉ có một lỗ chui vào cái cửa hình chữ A. Thành ra vô trong đó mảnh bom khó lọt vì cái hầm chữ A chống chọi được mảnh bom. Nếu bom đánh trúng hầm nào thì hầm đó chết; còn như đạn pháo binh, đạn súng cối thì không nhằm nhò gì hết.

Cựu phi công, Mục Sư Chung Tử Bửu. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp)

Trong hầm chữ A có hai Việt Cộng canh gác. Một tên mặt rỗ vô hầm đốt cây đèn dầu nhỏ. Tên kia buồn ngủ quá dựa vào góc ngủ, còn thằng mặt rỗ ngồi hỏi chuyện, và hỏi tên ông Bửu. Lúc đó ông Bửu vừa mệt vừa buồn ngủ, vì ba đêm qua hầu như không ngủ, nên ông ngồi gục đầu lên hai đầu gối. Nhưng tên lính Bắc Việt cứ hỏi, “Tại sao lại đi lính ngụy?” Rồi tại sao thế này thế kia, ông Bửu trả lời qua loa, thấy hình như anh lính Việt Cộng này có vẻ rất thông cảm, và hình như có ý muốn dắt ông Bửu đi trốn, nên anh ta cứ quan sát tên lính Bắc Việt đang ngồi ngủ dựa vào vách hầm. Anh lính Bắc Việt này cũng độ bằng tuổi với ông Bửu, lúc đó ông chưa được 25 tuổi. Hắn hỏi ông Bửu có vợ hay chưa, và trông có vẽ hắn quan tâm về số phận của ông Bửu.

Trên đường bị bắt làm tù binh

Ông Bửu kể tiếp: “Tôi thấy nó ngồi suy nghĩ, ý của nó hình như là muốn dắt tôi đi trốn, nhưng nó thấy có lẽ không được, bởi vì nơi đóng quân của chúng đông quá. Chỗ ấy không biết là tiểu đoàn hay trung đoàn mà rất đông lính CSBV. Tới gần sáng nó dắt tôi ra khỏi cái hầm, rồi đưa tôi đi lúc trời còn tối, trước mặt chỉ thấy mờ mờ. Tôi nhìn kỹ thấy vài người đứng lố nhố cùng nhóm tù binh mới bị bắt hôm qua với mình. Trong đó chỉ một mình tôi là sĩ quan, còn lại đều là binh sĩ. Một lát sau, tôi thấy họ dắt ra một người nữa đang trùm cái mền và ho sù sụ. Người đó cứ nói, ‘Tôi già quá rồi, bắt tôi làm chi mấy ông ơi!’ Có một tên tới hỏi tôi, ‘Mầy cấp bậc gì?’ Tôi trả lời, ‘Tôi là trung uý.’”

Lúc ấy trời đã sáng, họ dắt ông Bửu với người trùm mền tới trước cửa một cái hầm cỡ lớn, có vẻ là hầm chỉ huy. Có một sân đất khoảng chín thước vuông trước mặt hầm đó. Họ đưa ông Bửu với ông già ho sù sụ tới ngồi xuống khoảng sân đất, chung quanh hầm ấy toàn là rừng tre le. Thấy ông già ngồi ho mặc quân phục Dù, ông Bửu không biết ông là ai. Tới khi họ hỏi ông già: “Mày cấp bậc gì?” Ông già trả lời, “Trung Tá Bùi Văn Châu.” Lúc đó ông Bửu mới biết có một trung tá tên Châu. Nhưng ông Bửu thắc mắc, là ba ngày qua ở hầm chỉ huy của Lữ Đoàn Dù, ông Bửu chưa bao giờ gặp ông nầy.

Tới gần trưa, CSBV khui một hộp thịt heo kho của Trung Cộng, để nguyên như vậy và bưng tới một nồi cơm. Vì họ nấu cơm với nước suối đục ngầu, thành ra gạo trắng mà cơm màu hơi nâu đỏ đất núi. Họ đưa cho nhóm tù binh mỗi người một cái chén sắt tráng men, một đôi đũa rồi biểu ăn đi. Nhưng các chiến sĩ VNCH ăn làm sao được, vì bụng dạ đâu mà ăn nữa. Nhưng cũng ráng cầm đũa ăn vài miếng rồi bỏ xuống. Thấy vậy, một tên Việt Cộng nói, “Ngon thế mà không ăn à?” Nhưng đối với nhóm tù binh, thịt hợp của Trung Cộng thì đâu có ngon gì.

Ông Bửu nói tiếp: “Sau này tôi mới biết, đối với Việt Cộng tại chiến trường, thịt hộp là cao lương mỹ vị chỉ dành cho sĩ quan chứ lính không được ăn. Sau khi ăn xong, họ lại trói giật cánh khuỷu rồi dắt chúng tôi đi nữa. Đi một lát, thấy họ dẫn ra hai ông copilot của tôi. Không thấy Giang đâu chỉ thấy Bùi Tá Khánh, copilot của tôi, và Võ Văn On, copilot của Giang. Còn hai cơ phi thì Em chết rồi và Trần Hùng Sơn bị bắt cùng một lượt với tôi.”

Gặp các chiến hữu

 

Phi Đoàn 219 rước toán Biệt Kích trong rừng núi hiểm trở. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp)

Chung Tử Bửu kể: “Khi chúng dẫn tôi đi ngang qua, tôi thấy Trần Hùng Sơn đứng trong một chỗ trũng giống như cái hố vậy. Hố nhỏ nó đào sâu xuống khoảng chừng ngang bụng nên nhìn thấy người đứng lố nhố dưới đó. Sơn bị nạn vào lần thứ năm vừa rồi, và bị rớt trước một ngày. Mà Sơn râu rậm, da hơi đen của người Ấn Độ, thành ra lúc ấy, ui cha! Cái mặt anh ta râu ria đen thui. Nó thấy tôi mừng quá mở miệng cười nhăn răng trắng nhởn nên rất tức cười. Riêng chúng tôi là các sĩ quan nên bị họ dắt đi riêng.”

Tới xế chiều thì ông Bửu bị họ dẫn riêng tới một cái hầm chữ A khác, hầm nầy khá rộng nằm kề bên một con suối khá lớn. Chúng dắt ông Bửu vô đó. Một lát sau, chúng dắt vô thêm hai người. Một người mang lon đại úy bị thương cánh tay phải đã được băng bó. Người thứ hai cũng mang lon đại úy mà mặt ốm xương xương. Người bị thương cánh tay là Đại Úy Lê Đình Châu, đại đội trưởng đại đội công vụ của Lữ Đoàn 3 Dù. Ba người bị nhốt vào đó cứ ngồi ngủ gà ngủ gật, chẳng ai nói với ai câu nào.

Ông Bửu nhìn ra ngoài thấy chúng dắt một toán sĩ quan tù binh, trong toán đó, ông thấy copilot của ông có Bùi Tá Khánh, Võ Văn On và Đại Úy Dương Tấn Nghĩa thuộc Phi Đoàn 114, Nha Trang cùng vài sĩ quan Nhảy Dù khác. Đến tối, CSBV dắt nhóm tù binh ra ngoài, lúc đó ông Bửu mới thấy Đại Tá Thọ trong nhóm bị dắt ra bờ suối. Bề ngang suối ấy khá rộng. Tổng số tù binh sĩ quan là 16 người. Cứ năm người họ cột thành một dây, rồi mấy tên Việt Cộng xuống đứng giữa suối. Chúng nắm tay nhau làm thành một hàng ngang, để nhóm tù binh vịn đi qua suối. Vì chúng sợ có người trong nhóm tù binh nầy không biết bơi sẽ bị trôi, cho nên, chúng giăng một sợi dây từ bờ nầy qua bờ kia để nhóm tù binh nắm sợi dây mà đi qua.

Chung Tử Bửu nhớ lại: “Tội nghiệp Đại tá Thọ, ông bị thương một chân chưa lành, ông đi cà nhắc mà lại phải đi qua suối. Ông thì mập, nước lại chảy khá mạnh, thành ra vừa ra giữa suối ông bị trôi. Tôi thấy ông nắm sợi dây, miệng phun phù phù cố gắng qua suối. Cuối cùng cả đoàn cũng qua được hết. Lúc đó, chúng không cần cột năm người thành một dây làm chi nữa; dây bị lỏng tuột ra tùm lum chúng cũng không cần biết, vì trời rất tối. Chúng tôi đi trong rừng tối đen như mực, không thấy gì hết.”

Ông kể thêm: “Một Việt Cộng dẫn đường lượm dưới đất một miếng lá khô dắt phía sau cái ba lô của nó. Tôi nhìn quanh thấy tất cả lá khô đều trở màu lân tinh hết. Thành ra, nó dắt cái lá bự lên ba lô của nó, để chúng tôi nhìn theo ánh sáng lân tinh mà đi. Lúc ấy tôi không hiểu tại sao ban đêm tối thui mà nó đi đúng đường. Sau nầy mới biết là hai tay nó dò theo đường dây điện thoại giăng hai bên đường mòn. Đó là đám giao liên nên tụi nó rất rành đường. Vì nó biết đoạn đường ấy, đi tới đi lui chỉ đoạn đường ấy thôi. Chúng giăng sẵn dây điện thoại, không phải chỉ để dẫn đường, mà là đường dây để chúng liên lạc với nhau qua điện thoại.”

Tới một chỗ có nhiều tảng đá lớn và cao, chúng cho nhóm tù binh ngừng lại nghỉ một chút. Ông Bửu nghe tiếng một ông giọng Bắc lải nhải lặp đi lặp lại, “Quả tình là tôi không muốn đi lính đâu ạ. Bị bắt buộc thôi!” Thì ra một ông tù binh năn nỉ Việt Cộng để được thả về. Tới sáng, ông Bửu mới biết người nói đó là Trung Úy Dù Đinh Đức Chính, sĩ quan không trợ của Lữ Đoàn 3 Dù. Ông Bửu nói: “Sau nầy, tôi ở với chàng lâu năm trong tù nên tôi rành ảnh lắm.”

Chung Tử Bửu (thứ ba từ trái), tại Đại Hội Trực Thăng Toàn Cầu lần thứ IV tại Westminster, California. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp).

Cho nghỉ khoảng 20 phút, họ bắt nhóm tù binh đi tới sáng. Địa điểm ấy cũng chẳng biết đâu là đâu. Nhưng sau khi đi một quãng thì trước mặt là một thung lũng toàn cỏ tranh. Rồi họ dẫn nhóm tù binh đi về hướng mặt trời mọc.

Một Việt Cộng còn trẻ, tuổi khoảng chưa tới 30, mang súng ngắn. Ông Bửu biết nó là thằng chỉ huy. Nó đi lại gần ông Bửu, vừa đi vừa hỏi, “Tại sao anh không theo cách mạng mà theo ngụy?” Ông Bửu trả lời, “Tôi lớn lên ở Miền Nam thì tôi đi lính bảo vệ Miền Nam chứ theo ngụy gì?” Hắn lại hỏi tiếp: “Anh có gia đình chưa?” Ông Bửu nói: “Tôi có vợ và con đầu lòng mới hơn mười bốn tháng thôi.” [dt]

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT