Vì sao Mỹ oanh tạc Cộng Sản hồi thập niên 1960 thiếu hiệu quả?

Vann Phan/Người Việt

SANTA ANA, California (NV) – Trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam hồi các thập niên 1960 và 1970, Hoa Kỳ đã ra sức gây áp lực tối đa lên Cộng Sản Bắc Việt để họ phải từ bỏ kế hoạch đánh chiếm miền Nam Việt Nam và chấp nhận ngồi vào bàn hội nghị để chấm dứt cuộc chiến qua hai chiến dịch oanh tạc xuống lãnh thổ miền Bắc Việt Nam: Hành Quân Rolling Thunder và Hành Quân Linebacker 1 & 2.

Hành Quân Linebacker 1 & 2 diễn ra vào dịp Giáng Sinh 1972, đã đem lại kết quả là buộc Cộng Sản Bắc Việt phải chấm dứt việc tẩy chay cuộc hòa đàm nhằm làm mất uy tín của Tổng Thống Richard Nixon – là không đạt được một thỏa hiệp hòa bình cho cuộc chiến tại Việt Nam trước khi bắt đầu nhiệm kỳ thứ nhì của ông như đã hứa với dân chúng Mỹ.

Hành Quân Rolling Thunder, bắt đầu từ ngày 2 Tháng Ba, 1965, và kết thúc vào ngày 31 Tháng Mười, 1968, chỉ gây thiệt hại về vật chất đáng kể cho hậu phương của Cộng Sản Bắc Việt chứ không bẻ gãy được quyết tâm chiến đấu để xâm chiếm miền Nam của Cộng Quân ngoài tiền tuyến.

Vì sao các cuộc oanh tạc dữ dội xuống miền Bắc Việt Nam hồi thập niên 1960 của các máy bay thuộc Hải Quân, Không Quân và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã không buộc được Cộng Sản Bắc Việt phải từ bỏ ý đồ xâm lược miền Nam Việt Nam mà chỉ gây ra những thiệt hại cho các kho vũ khí, đạn được, lương thực, đường sá, cầu cống, xe vận tải, và tàu thuyền tại Bắc Việt? Xin sơ lược lại diễn tiến các cuộc oanh tạc kéo dài tới hơn ba năm trời của không lực Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa xuống lãnh thổ Bắc Việt.

Diễn tiến Cuộc Hành Quân Rolling Thunder từ 1965 tới 1968

Theo tác giả Peter Fey trong bài khảo cứu nhan đề “Operation Rolling Thunder” trên trang mạng lfeldhaus.tripod.com, Chiến Dịch Rolling Thunder được thực hiện qua năm đợt.

Đợt 1, từ Tháng Ba tới Tháng Sáu, 1965: Máy bay Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa tấn công một số mục tiêu nằm bên trong lãnh thổ Cộng Sản Bắc Việt, từ vĩ tuyến 17 tới vĩ tuyến 19, không gây nhiều thiệt hại lắm nhưng lại tạo cơ hội cho các lực lượng Cộng Sản xây dựng và củng cố một mạng lưới phòng không chằng chịt và phức tạp chung quanh các mục tiêu bị tấn công.

Đợt 2, từ Tháng Bảy, 1965, tới Tháng Giêng, 1966: Phi cơ của không lực Mỹ nhắm vào đường sá, cầu cống, ghe tàu và đường xe lửa. Kế đó, máy bay Mỹ cũng tấn công các kho xăng cùng các nguồn năng lượng của Cộng Sản Bắc Việt.

A-1H Skyraider của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa. (Hình: wikipedia.org)

Đợt 3, từ Tháng Giêng tới Tháng Mười, 1966: Không lực Mỹ chú trọng đánh phá các tiện nghi xăng và dầu nhớt của Cộng Sản Bắc Việt. Sau  khi các cuộc oanh tạc phá hủy khoảng 70% nguồn tiếp liệu nói trên, các lực lượng Cộng Sản bèn phân tán xăng, dầu của họ đến nhiều nơi khác nhau, do đó các lực lượng của họ đang chiến đấu tại miền Nam Việt Nam vẫn có đủ nhiên liệu để duy trì cuộc chiến tranh du kích tại miền Nam.

Đợt 4, từ Tháng Mười, 1966, tới Tháng Năm, 1967: Các cuộc oanh tạc của Mỹ tập trung vào những khu kỹ nghệ và sản xuất năng lượng tại miền Bắc. Các mục tiêu lần này bao gồm khu vực thủ đô Hà Nội (vĩ tuyến 20), nhắm vào những đoàn xe vận tải chuyên chở chở vũ khí và tiếp liệu, nhưng các vị tư lệnh chiến trường Mỹ chưa được phép của Washington cho tấn công vào những hải cảng và quân cảng trên vùng duyên hải Cộng Sản Bắc Việt.

Đợt 5, từ Tháng Năm, 1967, tới Tháng Mười, 1968: Chiến đấu cơ và oanh tạc cơ Mỹ nỗ lực cắt đứt hệ thống giao thông và chuyển vận giữa Hà Nội và Hải Phòng cùng các cơ sở kỹ nghệ còn lại của Cộng Sản Bắc Việt, với kết quả ước tính có 5,6000 xe tải, 2,500 toa tàu hỏa, và 11,500 ghe tàu của địch bị phá hủy.

Các số liệu sau chiến tranh cho thấy, để chống trả lại hỏa lực phi pháo của Mỹ, chỉ nội trong năm 1967 thôi, các lực lượng Cộng Sản Bắc Việt đã huy động khoảng 10,000 súng cao xạ và phòng không, trong đó có 25 tiểu đoàn hỏa tiễn phòng không SAM, và sử dụng 25,000 tấn đạn bắn máy bay.

Vì sao Cộng Sản Bắc Việt vẫn không bị khuất phục?

Theo trang mạng historylearningsite.co.uk, trong hơn ba năm oanh tạc Cộng Sản Bắc Việt, các phi cơ của Hải Quân, Không Quân và Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã ném xuống miền Bắc tổng số là 643,000 tấn bom đạn và gây thiệt hại khoảng $300 triệu cho các cơ sở quân sự, các nhà kho và hệ thống cầu, đường của Cộng Sản Bắc Việt.

Chỉ trong vòng hơn ba năm thôi, một xứ sở tương đối nhỏ như miền Bắc Việt Nam mà phải hứng chịu một số bom đạn lớn lao như thế nhưng tại sao họ vẫn không chịu thua mà từ bỏ tham vọng đánh chiếm miền Nam Việt Nam đang được các lực lượng Mỹ bảo vệ?

Các lý do sau đây có thể giải thích vấn nạn trên:

-Các chính trị gia tại Washington, bao gồm Tổng Thống Lyndon Johnson và Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Macnamara, đã xác định mục tiêu của Cuộc Hành Quân Rolling Thunder không phải là nhắm “tiêu diệt” Cộng Sản Bắc Việt mà là nhằm “thuyết phục” Hà Nội từ bỏ kế hoạch đánh chiếm miền Nam Việt Nam, lập luận rằng nếu nhà cầm quyền Hà Nội cứ tiến hành kế hoạch của họ thì đất nước họ sẽ phải hứng chịu những thiệt hại vật chất nặng nề, trong đó các căn cứ quân sự, các nhà kho và hệ thống cầu đường bị coi là mục tiêu tấn công của máy bay Mỹ. Điều này cho thấy Hoa Kỳ đã tin tưởng quá mức vào sức mạnh trên không của mình và đánh giá quá thấp một địch thủ kiên cường như Cộng Sản Bắc Việt.

-Ngay cả các mục tiêu tấn công tại Bắc Việt cũng đều do các nhà lãnh đạo tại Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài quyết định trước, chứ không nằm trong tay của Bộ Tư Lệnh Các Lực Lượng Mỹ tại Thái Bình Dương. Chính sự can thiệp và kiểm soát quá mức của Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài đối với chiến dịch oanh tạc các mục tiêu trên lãnh thổ Cộng Sản Bắc Việt đã làm cho Chiến Dịch Rolling Thunder kém hiệu năng ngay từ những ngày đầu.

Oanh tạc cơ Mỹ trên không phận Bắc Việt trong Chiến Dịch Rolling Thunder. (Hình: wikipedia.org)

-Việc các giới chức Mỹ ấn định trước những mục tiêu sẽ đánh vào và những nơi nào máy bay Mỹ không được đụng tới – như chỉ được phép tấn công các vị trí địch từ vĩ tuyến 17 tới vĩ tuyến 19 mà thôi – cũng như sách lược “chỉ đáp trả tương xứng chứ không được quá tay” (“flexible response”) của các nhà hoạch định chiên lược Mỹ tại Việt Nam đã giúp cho các lực lượng Cộng Sản Bắc Việt có thể phân tán những cơ sở quân sự trọng yếu của họ ra xa hoặc tập trung hỏa lực phòng không của họ về một phía nào đó nhằm giảm thiểu hiệu quả của các cuộc oanh tạc.

-Lề lối làm việc nặng tính cách thư lại (bureaucracy) của các quân chủng trong các lực lượng võ trang Hoa Kỳ cùng với nhiều chòng chéo trong hệ thống quân giai Mỹ, từ Hải Quân cho tới Không Quân, và từ Guam, Subic Bay, Clark Air Base, cho tới Ubon, Nakhon Phanom, và U-Tapao đã khiến cho cuộc hành quân trên bầu trời Bắc Việt thiếu linh động và khó có thể đáp ứng thích nghi với tình hình đột biến của chiến trận.

-Giới lãnh đạo Mỹ tại Washington và trên chiến trường dường như không hề tính tới chuyện, trong thời chiến, Cộng Sản Bắc Việt có thể động viên toàn bộ dân chúng để mỗi người dân trở thành một tay súng, từ đó gia tăng sức mạnh của các lực lượng phòng không trên toàn lãnh thổ. Hoa Kỳ cũng không dự trù tình huống các lực lượng phòng không của Liên Xô, Trung Cộng, Bắc Hàn, và Cuba cũng có mặt tại chiến trường để giúp quân Cộng Sản Bắc Việt bắn máy bay Mỹ. Các bằng chứng được tiết lộ sau chiến tranh cho thấy chính các phi công Bắc Hàn và Cuba đã lái những chiến đấu cơ Mig-17 và Mig-21 tấn công phi cơ Mỹ trong lúc họ đang oanh tạc các mục tiêu dưới đất.

-Sau cùng, phải nói tới ý chí quyết chiến, quyết thắng và nhiệt tình bảo vệ lãnh thổ của các lực lượng võ trang Cộng Sản Bắc Việt, kể cả các toán dân quân và dân chúng miền Bắc dưới quyền cai trị chặt chẽ của đảng Cộng Sản Việt Nam, tuy độc tài và tàn bạo hơn nhiều so với chính quyền Miền Nam Tự Do nhưng lại rất hữu hiệu khi phải đối phó với các “giặc lái” Mỹ đang điều khiển những chiếc máy bay phản lực ném bom phá hủy ruộng đồng, nhà cửa và đường sá trên quê nhà của họ. [qd]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT