Khu Gia Binh

 

Bích Hoa

Thuở bé, nhà tôi ở gần căn cứ của Tiểu Ðoàn 42 Biệt Ðộng Quân tại Cần Thơ (lâu quá tôi không nhớ rõ 42 hay 43). Bé quá, tôi không biết căn cứ lập từ lúc nào, nhưng khi tôi học lớp tư, lớp ba gì đó thì thấy lính tráng đông đảo và những nhà hàng xóm có đất trống đã cất lên những dãy nhà lá tạm bợ, liền vách nhau, để cho vợ con của lính mướn cư ngụ. Cái xóm bổng trở nên đông đúc, ồn ào, nhộn nhịp hẳn lên.

Ông tôi là nhà giáo, bố tôi là viên chức của chính phủ VNCH. Tôi nghe mẹ tôi nói với bố tôi là muốn cất lên một dãy nhà để cho mướn kiếm thêm chút thu nhập cho gia đình. Nhưng sau đó ông tôi nghe thế thì giận lắm! Chẳng những ông không đồng ý mà còn bắt cha tôi phải đi mua dây kẽm gai làm một hàng rào bao bọc cả khu vườn. Phía trước nhà tôi có một con lạch nhỏ chạy theo hình chữ L, muốn vào nhà phải đi qua cây cầu, nay làm thêm hàng rào, nhà tôi bỗng trở thành ốc đảo, khu “khu phi quân sự.”.. Tôi không còn tự do dẫn bạn bè trèo cây hái ổi, mận… vào những cuối tuần. Bây giờ không có đứa nào dám đi qua chiếc cầu vào nhà tôi trước cái nhìn của ông tôi.

Ông tôi là nhà giáo rất nghiêm khắc, cả nhà ai cũng kính sợ. Ông dạy chúng tôi học từ lúc 4, 5 tuổi. Ông gửi chúng tôi đến lớp học nhỏ của một bà giáo già hưu trí ở cuối xóm với vài mươi đứa trẻ khác. Bà giáo nghèo lắm nhưng không bao giờ chịu lấy tiền dạy học chúng tôi. Cũng nhờ đó mà khi vào học lớp năm (lớp 1 hiện nay) thì tôi đã làm được các phép tính và đọc báo trôi chảy.

Ông tôi bắt cha tôi làm rào ngăn cách với hàng xóm nguyên nhân là vì sau mấy ngày đầu tiên đi học về đến nhà thì ông tôi bắt gặp em trai tôi cứ lẩm bẩm một mình gì đó trong miệng. Ông cố ý nghe được, thì ra em tôi bắt chước tụi bạn trong lớp học lẩm bẩm 2 tiếng chửi thề, vì 2 tiếng này lạ lẫm mà em tôi chưa bao giờ nghe trong nhà. Ông sợ chúng tôi giao tiếp với các bạn xấu, bà tôi cãi lại ông, vì tôi hay kể cho bà nghe về những bạn rất tốt ở trong khu gia binh như là con Thủy, con Phượng, v.v… ba của tụi nó đều là lính BÐQ. Nhà nghèo lắm nhưng tụi nó học rất giỏi và tánh tình đàng hoàng.

Ông tôi bản tính mô phạm, mực thước không thích sự xô bồ của khu nhà bị ảnh hưởng của trại lính ồn ào, náo nhiệt, có cả rượu chè, cờ bạc, bắn nhau…

Không lâu sau, ba của con Hương, con Thủy đều tử trận, mẹ nó dọn về quê đi mất, tôi thương và nhớ tụi bạn lắm nhưng chẳng bao giờ gặp nữa trong đời.

Ở xóm nhà gần khu căn cứ BÐQ này thì cứ vài tuần lễ lại có nghe một trận khóc la kinh khiếp mỗi khi có đoàn xe GMC chở đầy lính hành quân trở về căn cứ sau những ngày đi đánh trận, và mang tin về ai chết ai sống…

Cho nên vợ con người chết trận kêu khóc thảm thương. Mỗi lần như vậy tôi còn nhớ có bà Thiếu Tá Dần đến thăm, an ủi mấy người có chồng chết. Bà đi tới đâu con nít, người lớn bu theo rần rần. Tôi nhớ tên bà Dần là vì bà rất nổi tiếng, nghe nói bà không phải là lính nhưng cũng đi theo đánh trận và chỉ huy giỏi nữa, và rất thương yêu, giúp đỡ vợ con của lính.

Dì tôi còn trẻ mở một cái quán café có nhạc. Dì đẹp lắm, nhiều lính đến uống café. Có mấy vị sĩ quan đeo đuổi dì, vậy mà cuối cùng dì lấy một người lính bình thường. Chú ấy lính BÐQ mà mặt mày hiền khô, những ngày không đi hành quân, chú hay đến uống trà nói chuyện với bố tôi. Thỉnh thoảng sau này tôi thấy đôi lúc dì đóng cửa quán thì chú ngồi ôm đàn hát cho dì và tôi nghe. Tôi thấy một bức tranh của dì do chú vẽ rất đẹp treo trên tường. Dì tôi kể bạn của chú nói với dì rằng chú ở nhà hiền vậy nhưng ra trận chú rất là “chì,” anh em ai cũng thương mến, nể vì,…

Sau đám cưới không lâu dì trở nên góa phụ, tôi cũng khóc với dì biết bao nhiêu nước mắt. Bên gia đình chồng thương, kêu dì dẫn con về Sài Gòn sinh sống. Rồi ông tôi mất, bố tôi bán cả nhà và khu vườn, dời về thành phố cư ngụ cho tiện lợi gần nơi bố làm việc và cũng là lúc tôi vào lớp đệ thất.

Ngày nghỉ, tôi rủ chúng bạn đạp xe lên Bình Thủy về thăm xóm cũ, thì thấy vắng tênh vì nghe nói lính BÐQ đã đổi đi hết về miền Trung. Bản tính con gái tôi không thích mấy ông lính trông dữ dằn quá, nhưng bây giờ vắng bóng họ tự dưng tôi thấy một nỗi buồn mênh mang!…

Thời gian trôi, tôi vào Sư Phạm Vĩnh Long với ước mơ đơn sơ trở thành cô giáo. Tại đây tôi quen với Thự, anh lớn hơn tôi, học trước tôi, vì cùng quê Cần Thơ nên anh dễ dàng thân thiết với tôi. Thự cao ráo, đẹp trai, lưu loát, bay bướm,… với vóc dáng của một nghệ sĩ hơn là nhà mô phạm, nhưng trông có vẻ yếu đuối, nếu không nói là có tướng yểu mệnh! Tôi biết Thự yêu tôi, nhưng chẳng biết sao tôi rất quý mến Thự mà tình yêu thì chưa thấy đến, và có lúc tôi thấy Thự thiếu cái nét, cái chất hùng mạnh của những người lính, dẫu rằng tôi không thích lính, con gái mâu thuẫn như vậy, và nhớ đến những đau khổ của dì tôi. Tôi bỗng sợ yêu phải anh lính hào hoa nào đó như dì!

Thự hay đem đến cho tôi xem những bức thư của một người bạn rất thân thiết với anh từ thuở bé. Anh ấy đang thụ huấn ở quân trường Sĩ Uan Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt. Thự nói rằng thể chất anh yếu đuối, anh muôn trở thành thầy giáo mang văn hóa về quê hương đen tối của anh. Còn bạn anh thì ôm mộng chinh nhân ngang dọc chiến trường… Nhìn những tấm ảnh một thanh niên rắn rỏi, hiên ngang và những bức thư bạn của Thự kể về những khổ nhọc ở quân trường Ðà Lạt và những bài thơ hào khí của “người ấy,” quả là xấu hổ cho tôi khi thú thật với lòng rằng nó đã làm tôi bâng khuâng với một hình bóng mà tôi không hề quen biết! Thự không hề biết là anh yêu tôi, nhưng đã “dại dột” đưa tôi rời xa anh hơn.

Những ngày gần kề 30 tháng 4, 1975, thư của bạn Thự gửi về liên tục kể lại những chuyển biến quân sự đen tối ở miền Trung và có những lời lẽ như trối trăn với Thự nhờ chăm sóc cho mẹ anh, nếu như anh có mệnh hệ nào trên chiến trường.

Không dưng lúc đó tôi lại tự hứa với lòng là sẽ làm công việc ấy cho anh. Con gái “yêu” thì lạ quá nhỉ! Mắc cỡ ghê… dẫu không ai biết!

Chiến sự sôi động tới Sài gòn. Các trường học miền Tây đều đóng cửa, trường Sư Phạm Vĩnh Long cùng chung số phận.

Thự và tôi thu xếp hành trang về quê. Tôi còn nấn ná lại cùng đi thăm nhà một số bạn bè tại Vĩnh Long, vì chúng tôi e rằng tạm đóng cửa lần này sẽ là vĩnh viễn, khó còn cơ hội đến chơi với nhau. Thật là bàng hoàng khi tôi nghe được tin khủng khiếp rằng chuyến xe đò từ Vĩnh Long về Cần thơ đã bị tai nạn dọc đường, đâm đầu xuống con sông và Thự đã chết!

Vốn là dân sinh ra, lớn lên trên sông rạch anh bơi lội rất giỏi. Khi xe bị tai nạn các nhân chứng thuật lại đã chính mắt nhìn thấy anh lặn hụp để cố gắng kéo những hành khách khác ra khỏi chiếc xe, nhưng theo sự đồ đoán của nhiều người thì cho rằng chính vì những nạn nhân không biết lội trong lúc quá hốt hoảng đã bấu víu vào anh quá sức khiến anh chìm lỉm. Tôi đau đớn vô cùng trước sự trớ trêu của số mệnh. Ngày tang lễ của anh, không hiểu trước đây anh đã nói những gì với gia đình về tôi mà mọi người đều tỏ ra quý mến tôi vô hạn giống như một “con dâu” của gia đình. Tôi cũng lẳng lặng chấp nhận tình cảm ấy như một lời tạ lỗi của tôi đến linh hồn Thự khi tôi đã hờ hững trước tình yêu của anh. Tôi tiếp tục thăm viếng gia đình Thự như sự an ủi cho gia đình anh. Cái chết của Thự đã làm cho tôi có nhiều biến chuyển lớn trong tâm hồn.

Rồi ngày 30 tháng 4, 1975 đổ ập đến với những biến động kinh hoàng trong đời người. Tôi và gia đình dời đi nơi khác.

Cho đến một hôm có một người khách lạ đến nhà hỏi thăm tôi. Anh chàng trông mặt rất quen, dáng dấp phong sương gió bụi. Phải định thần khá lâu, tôi mới chợt nhớ lại đó chính là người sinh viên sĩ quan, bạn của Thự mà tôi đã thường nhìn thấy trong ảnh trước kia Thự đưa cho tôi xem. Bỗng dưng hai má tôi đỏ bừng hổ thẹn tưởng chừng như người đứng trước mặt kia thấy rõ cả lòng mình.

Anh đã trở về bình an sau cơn lửa đạn, tìm đến thăm Thự và đau buồn biết tin Thự mất. Gia đình Thự chỉ cho anh tìm đến tôi thì sẽ biết nhiều kỷ niệm về Thự. Ðó là lý do mà anh đến nhà tôi. Anh xúc động khi tôi còn giữ những thư từ hình ảnh của anh gửi về cho Thự và các bạn cũng thừa thông minh để hiểu rằng sau đó tình yêu của chúng tôi đã bùng cháy dữ dội như thế nào, trong lúc đất nước ngã nghiêng, biến loạn…

Tôi vẫn còn nhớ như in hình ảnh của những người lính Thiết Giáp, lính Sư Ðoàn 9, Sư Ðoàn 21 Bộ Binh trong những ngày kề cận cuối cùng cuộc chiến họ vẫn chiến đấu anh dũng. Tôi gặp họ đóng quân dài theo quốc lộ Vĩnh Long về Cần Thơ, trên ba lô thỉnh thoảng có treo cả những nồi niêu xoong chảo, hình ảnh gợi nhớ về những trại gia binh, về những nỗi khổ nhọc của người chiến binh VNCH. Và người yêu của tôi còn vạch ra cho tôi biết thêm đó chính là nét rất bình thường mà hết sức nhân bản của người lính quốc gia. Họ mang theo trên vai trách nhiệm với Tổ Quốc mà hình ảnh đơn sơ nhất là vợ con và những khu gia binh. Không ai trong họ muốn cầm vũ khí nếu không có sự xâm lăng từ những con người vô thần, vô gia đình, vô tôn giáo,… và tàn bạo nhất trong lịch sử dân tộc.

Tôi bỗng như cảm thấy có lỗi khi còn bé với những ý nghĩ không mấy đẹp về những khu gia binh trước kia, khi tôi chợt nhận ra rằng những khu gia binh ấy có sự liên hệ với sự an lành của toàn thể miền Nam trong bao nhiêu năm qua. Cũng như trước kia tôi không hề thấy có sự liên hệ giữa những cái chết của người lính với sự an lành của tôi khi được tung tăng đến trường. Những khu gia binh mà đã bị cộng sản pháo kích bừa bãi vào đó để cố ý làm hỗn loạn tinh thần của những người lính VNCH vốn đặt nặng tinh thần yêu thương gia đình. Một căn cứ quân sự có thể chịu đựng trăm ngàn đạn pháo, nhưng một khu gia binh bị pháo kích thì rung động tinh thần chiến sĩ gấp trăm nghìn lần.Và chỉ có những kẻ bất nhân nhất như cộng sản thì mới không từ nan thực hiện điều tồi tệ đó.

Những khu gia binh, nơi mà biết bao người phụ nữ Việt Nam đã gắn bó đời mình với cuộc đời của những chàng trai chiến sĩ, chỉ mong một ngày thanh bình, vợ chồng về khu vườn xưa, cày sâu cuốc bẫm,… à ơi! tiếng hát ru con… nhưng ngày ấy đã không bao giờ đến.

Khi cộng sản tràn vào thành phố biết bao gia đình sinh sống trong các khu gia binh, nhất là các làng phế binh đã bị những kẻ chiến thắng cướp đoạt, đuổi xô ra khỏi nhà, đày ải đi các vùng kinh tế mới.

Tôi may mắn cùng chồng trốn thoát khỏi hỏa ngục CSVN. Nơi xứ người, tôi lại nhớ về những khu gia binh, dù tôi chưa một lần sinh sống nơi đó. Và thưa các bạn, tôi càng thêm yêu thương chồng tôi, anh ấy vẫn là người lính nhân bản mang trên vai “khu gia binh.” Ðó là tôi và các con tôi.

Xin cảm ơn những người lính VNCH!


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

‘Tư bản đỏ’ thao túng mọi chính sách ở Việt Nam

Giới “tư bản đỏ” mới chỉ hình thành vài ba chục năm nay, sau khi đảng CSVN tuyên bố “đổi mới” kể từ 1986, nhưng giờ đây đã thao túng, lũng đoạn mọi chính sách của nhà cầm quyền Cộng Sản tại Việt Nam.

Thượng đỉnh Mỹ-Triều có tan vỡ?

KCNA lên án cuộc tập trận giữa không quân Hàn Quốc và Mỹ là “diễn tập xâm lược” và là “hành vi quân sự cố ý khiêu khích” giữa thời điểm mối quan hệ Hàn-Triều đang cải thiện.

Hội Nghị Trung Ương 7 và dấu hỏi Đinh Thế Huynh

Hội Nghị Trung Ương 7 của đảng Cộng Sản Việt Nam đã trôi qua êm đềm vào đầu Tháng Năm năm 2018 mà không có sự xáo trộn lớn trong “tứ trụ.”

Bầu cho người nào?

Việc tranh cử tại khu 7 thật đáng buồn vì đa số quý vị bên ngoài phê phán chụp mũ tàn nhẫn. Xin cùng nghe lại câu thơ cũ. Ôi Việt Nam cùng Việt Nam gây hấn, muôn đời sau để hận cho dòng sông.

Điện Trời

Toàn bộ 5 thành viên của California Energy Commission đã đồng thanh biểu quyết chấp thuận kế hoạch ĐIỆN TRỜI, trong một thời gian ngắn kỷ lục.

Mẹ Têrêsa

Tôi nghĩ người được nhiều người gọi là mẹ nhất trên thế giới khi còn tại thế phải là mẹ Têrêsa (Mother Teresa).

600 cán bộ chiến lược nặn ra từ khuôn mẫu giáo điều

Với 600 quan chức hủ lậu, như 600 robot theo mô hình các thế kỷ cũ, toàn đồ cổ mốc meo, tư duy già nua, đất nước sẽ đi vào thời kỳ mạt vận.

Mì lạnh Bình Nhưỡng

Với tôi, món mì lạnh Bình Nhưỡng gợi lại một kỷ niệm về chuyến đi Nam Hàn lần đầu, năm 1966 hay 67 gì đó, trong phái đoàn báo chí Việt Nam Cộng Hòa được chính phủ Nam Hàn mời.

Vụ ‘mất bản đồ Thủ Thiêm’ sẽ dẫn đến một đại án quốc gia?

Ngay vào lúc này, nếu ông Trọng muốn mở điệp vụ “truy tìm tấm bản đồ thất lạc,” thì có nghĩa là nhắm trực tiếp vào trách nhiệm của Lê Thanh Hải - cựu chủ tịch và cũng là cựu bí thư TP.HCM.

100,000 của cô giáo

Người ta vẫn ngạc nhiên- hay thất vọng- thấy chưa có một tác phẩm lớn lột trần hết cái xã hội băng hoại ở Việt Nam ngày nay.