Trái bầu khô: Cầu nối tình duyên của người M’nong

K’Sim



Mới đây tiện dịp về xã huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk công tác, chiều đó tôi tìm đến nhà Ama Pho, người M’nông, là chỗ quen biết thân tình từ lâu, song sau này vì cuộc sống mưu sinh nên mỗi người ở mỗi nơi cách xa nhau cả trăm cây số nên ít gặp nhau.



Anh đang hì hục lắc quả bầu khô khá lớn, đó cũng là công đoạn đầu tiên để có được chiếc bầu đựng nước sau khi đã khoét một cái lỗ chỉ to bằng đồng xu trên miệng để moi hột và ruột bầu ra. Tôi lên tiếng:



-Thời nay thiếu gì thứ đựng mà còn đi làm bầu?



Nhìn một chặp, nhận ra tôi, Ama Pho mừng quýnh bảo vợ nướng thịt khô và khui rượu cần mời tôi nhâm nhi. Được vài lần vít cành anh mới trả lời câu hỏi của tôi:



-Đúng như ông nói, nhưng trái bầu nó đã ngấm và trong tiềm thức người Ê đê từ lâu rồi. Du khách đến Tây Nguyên gặp bất cứ một nhóm người dân tộc thiểu số tại chỗ nào như M’nông, Ê-đê, Ba-na, Kơ-ho… đi lên rẫy đều thấy người ta mang theo những trái bầu khô, có thể đeo ngang hông, bỏ trong gùi hoặc cầm trên tay với vẻ trân trọng, đó là trái đựng bầu nước đã gắn bó với bà con nơi đây từ bao đời nay, mặc dù trên thị trường bán rất nhiều vật dụng khác bằng nhựa, kim loại giản tiện hơn song người ta vẫn không thích dùng.






Những trái bầu khô. Nguồn hình: Tạp chí Xưa & Nay



Rồi anh kể rằng, trái bầu đựng nước cũng là giống bầu ăn trái bụng phình to, cổ cao khoảng 10cm thon lại, nhưng phải được trồng trên mảnh đất cằn cỗi, tuy lâu có trái và trái nhỏ nhưng vỏ rất dày và bền.



Khi bầu kết trái to bằng nắm tay thì chọn chừa lại mỗi dây 2-3 trái đẹp nhất không méo mó, số trái còn lại vặt bỏ hết. Lúc còn non người ta phải treo trên cổ bầu một loại lá cây làm cho ruồi nhặng sợ không đục, khi bầu bắt đầu cứng vỏ thì thận trọng cột giữ cho chắc trên giàn rồi dùng gai cây rừng vẽ hoa văn, hoạ tiết tuỳ theo ý thích mỗi người. Không chỉ vẽ một lần là được mà cứ vài ngày phải nạo lại nét vẽ kẻo bầu lớn bít mất và đợi khi nào dây bầu héo khô mới cắt đem về nhà.



Người ta làm cơm cúng Giàng rồi mới dùng mũi dao nhọn, bén đục lỗ phía trên cổ bầu, lấy cái móc xoắn luồn vào lôi hết ruột, hột ra và đổ nước vôi vào ngâm. Ngâm như thế nửa tháng mới trút nước bỏ và đem cho 7-8 trái bầu vào nồi to cài cây phía trên cho chìm ngập nước luộc hai đêm hai ngày mới vớt ra (bầu được luộc không bị mối, mọt đục).



Tiếp đến là ngâm và súc nước lạnh ngày hai lần suốt 7 ngày cho sạch xơ bầu bên trong mới sửa chữa lại hoa văn, hoạ tiết cho sắc nét. Nhiều người thích sơn bầu bằng nhựa của một loại củ rừng. Việc sơn rất cầu kỳ, mỗi ngày phải dùng chổi quét khắp quả bầu đem phơi nắng, khô lại quét tiếp; ngay nào cũng vậy đến cả một tháng ‘sơn’ mới ngấm (chứ không phải là sơn hoá chất như ta tưởng).



Có người thích để vỏ mộc như vậy nhưng cũng được đánh bóng bằng lá cây ráp phơi hơi héo hàng chục lần đến độ soi gương được mới thôi.



Mỗi người trong nhà từ 10 tuổi trở lên đều có bầu nước riêng để đem theo khi đi rừng hoặc đi rẫy, thậm chí đem đi học. Nhà nào cũng có một trái bầu rất to có thể chứa được từ 8-10 lít nước để uống, tiếp khách gọi là ‘bầu cái’ đặt trong góc nhà và người mẹ phải có trách nhiệm không để bầu cạn khô nước và các ‘bầu con’ được lấy nước từ bầu mẹ này. 



Ngoài ra bầu còn dùng vào rất nhiều việc như đựng rượu, ngâm thuốc bổ, đựng hạt giống có khi đựng cả canh mang lên rẫy, nhưng bầu nào dùng cho việc gì thì chỉ có việc ấy chứ không đựng lộn xộn.








Trái bầu có nhiều công dụng. Nguồn hình: Tạp chí Xưa & nay



Ngày xưa trai gái đến tuổi cặp kê thường hay lấy trái bầu nước tỏ tình với nhau bằng cách, chàng trai đã để ý cô gái nọ mà không dám ngỏ lời thì chàng phải về trồng một dây bầu; thỉnh thoảng kiếm cớ rủ cô gái ra đứng dưới gốc bầu trò chuyện, khi bầu già tự tay chàng phải trổ hết tài năng làm một trái vừa xinh xắn vừa có hoa văn đẹp nhờ người đem tặng và chờ đợi.



Nếu như đầu mùa rẫy năm ấy mà nàng cột đúng trái bầu đó lủng lẳng sau gùi là nàng đã chấp nhận lời cầu hôn. Lúc này cứ mạnh miệng nói thẳng lời yêu thương thì chẳng mấy bữa cha mẹ nàng sẽ nhờ mai mối đến dạm hỏi ngay (tục người M’nông con gái bắt chồng). Nhưng nếu thấy nàng đeo trái bầu không phải của mình thì nên rút lui bởi “anh muộn rồi, em đã trót nhận bầu của người đến trước”. Tập tục này cho đến nay nhiều buôn người M’nông và một số dân tộc khác ở vùng sâu vẫn giữ.



Cũng bởi trái bầu vừa là vật dụng không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày và đã từng là cầu nối tình duyên nhiều đôi lứa nên nó gắn bó mật thiết với người M’nông suốt bao đời nay.







Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Thanh Nam, giấc ngủ cô đơn

Nhà văn Thanh Nam tên khai sinh Trần Đại Việt, sinh năm 1931 tại Nam Định, Bắc Việt Nam, mất năm 1985 tại Seattle, Hoa Kỳ, vì bệnh ung thư.

Tuồng chiến tranh thịnh hành thời đầu thập niên 1950

Không hiểu do nhận định thế nào về nhu cầu giải trí, mà khán giả cải lương những năm đầu thập niên 1950 lại đổ xô đi coi tuồng chiến tranh.

‘Ánh Trăng’ của Nguyễn Xuân Thiệp – bài thơ như bút ký đời người

Thơ Nguyễn Xuân Thiệp là một làn gió mới thổi vào sinh hoạt văn học hải ngoại đầu 1990. Kết cấu thơ không cách tân thời thượng, nhưng mới.

Thơ Bùi Giáng ảnh hưởng Nguyễn Du, Huy Cận?

Bùi Giáng là một trong những thi nhân cách biệt với đám đông. Tuy vậy, tiếng thơ ông khởi đầu ít phổ cập đại chúng.

Nhân một cái phân ưu

Tháng Giêng, 2019, cũng khoảng tháng này nhà thơ Nguyễn Bính qua đời ngay nơi quê quán Nam Định của ông, nhưng vào năm 1965.

Sân khấu Hậu Tấn với tuồng chiến tranh hiện đại

Đoàn hát Hậu Tấn ra đời đầu năm 1950 và khi gánh Hoa Sen hình thành khai trương bảng hiệu (1951) thì Hậu Tấn rã gánh.

Thơ Trần Vấn Lệ – Ôi Sao Thơ Buồn Vậy

Có bóng bởi có hình...Có hình nên có bóng.../ Anh nhớ em, bất động...sao trời rớt thành sương!/ Em ơi, anh dễ thương...làm thơ như vậy đó...

Mỹ như Tôi

Nhưng nếu tôi cũng thấy không được thoải mái, chính là vì tôi không thể không tự hỏi: Đây là nước Mỹ nào vậy.

Thơ Hoa Nguyên – Cho hết thời lãng mạn

Ta lãng mạn cho hết thời lãng mạn/ Vẽ chân dung mình lên những củ khoai/ Ta lãng mạn cho hết đời bỉ vận/ Thơ về đâu quang gánh ở phương đoài

Một thứ tự do hoang dại

Lần đầu lên Đà Lạt, tôi được nghe kể là người Pháp trước kia đề ra những quy chế rất gắt gao cho việc xây dựng các biệt thự ở đây.