Viêm cầu thận



Bác Sĩ Ðặng Trần Hào



Viêm cầu thận là bệnh thường hay gập trong lâm sàng, nó chiếm tới gần 50% trong số các bệnh nhân về thận, thường gập ở người trẻ tuổi và trẻ em.



Nguyên nhân thường bị cảm, nhiễm khuẩn đường hô hấp như tai, mũi và họng do:



-Phong tà.

-Thấp nhiệt

-Thủy thấp.



Làm cho:



-Phế khí không thông điều thủy đạo.

-Tỳ khí không vận hóa được thủy thấp.

-Thận khí không tuyên hóa được bàng quang.



Nên thủy dịch bị ứ lại sinh ra phù thũng, nó có thể xẩy ra ở nhiều phần trên cơ thể như; mặt, mí mắt, tứ chi hay toàn thân. Nguyên nhân chính viêm cầu thận, phù thũng thường liên quan tới phong thấp hay ba tạng âm không điều hòa được lượng nước trong cơ thể là phế, tỳ và thận.



Phù thũng qui về dương thủy và âm thủy. Dương thủy thường do phong thấp và thường là thực chứng. Âm thủy thường do thận và tỳ dương suy và là hư chứng.




1. Viêm cầu thận do phong tà



Thường là viêm cầu thận dị ứng do cảm lạnh gây viêm nhiễm. Phủ nửa người trên, phù mặt, nếu không chữa kịp thời có thể lan xuống phần dưới, có khi chỉ phù ở một bên mặt hay bên trái, sốt, sợ gió, đau đầu, đi tiều ít. Phù thũng xuống phần dưới chân, nhưng không ra mồ hôi, và thân người đôi khi cũng phù nề, đây do phong thấp, có thể gây ra tứ chi đau nhức và làm giới hạn cử động. Có người chỉ đau và sưng ở khuỷu tay, cổ tay hay ống chân và bàn chân mà không bị phù nhiều. Mạch phù. Rêu lưỡi trắng dầy và mịn.



Phương pháp chữa trị: Truy phong, hóa thấp, lợi tiểu, trừ viêm.



Giải Cơ Thẩm Thấp Thang

Ma hoàng 9 grs

Quế chi 6 grs

Hoắc hương 12 grs

Thổ phục linh 30 grs

Bạch mao căn 20 grs

Trạch tả 9 grs

Khương truật 9 grs

Sinh khương 6 grs

Hạnh nhân 9 grs

Phòng phong 9 grs

Hoàng kỳ 9 grs

Bạc hà 9 grs

Cam thảo 3 grs



-Ma hoàng, hạnh nhân, quế chi, cam thảo: Giải phong hàn và ra mồ hôi.



-Hoắc hương, thổ phục linh, thương truật: Giải thấp, trừ đau nhức.



-Bạch mao căn, trạch tả, khương hoạt: Lợi tiểu và trị phù thũng.



-Hạnh nhân, sinh khương: trị ho và tiêu đờm.



-Phòng phong: Khu phong.



-Hoàng kỳ, bạc hà: Bổ phế khí và khai thông phế nang.




2. Viêm cầu thận do thấp nhiệt



Thường gặp trong viêm cầu thận do mụn nhọt, lở loét ngoài da làm nhiễm trùng.



Chủ trị: Thanh nhiệt, giải độc, hóa thấp.



Bài thuốc

Thổ phục linh 12 grs

Bạch mao căn 9 grs

Cỏ mần chầu 9 grs

Kim ngân hoa 12 grs

Xà xàng tử 9 grs

Xa tiền tử 9 grs

Ðỗ trọng 9 grs

Cam thảo 6 grs



-Thổ phục linh, kim ngân hoa, cỏ mần chầu: Giải độc, tiêu viêm.



-Bạch mao căn, xà xàng tử, xa tiền tử, đỗ trọng:Thanh nhiệt, tiêu thấp, thông điều thủy đạo.



-Ðại táo: Phối hợp các vị thuốc.




3. Viêm cầu thận do thận và tỳ dương duy



Thận dương suy còn gọi là mạng môn hỏa suy: Bệnh nhân lạnh tứ chi, mặt trắng bệch hay đen kịt, đau vùng thắt lưng, xuất tinh sớm, rụng răng trước tuổi, mất thính giác, liệt dương, nước tiểu trắng trong, đi tiểu nhiều lần, ngày nhiều hơn đêm, phù chân, nhạt miệng, rêu lưỡi trắng. Mạch trầm, trì và vô lực.



Thận dương suy thường đi với tâm dương suy, tỳ dương suy hay phế khí suy.



Tùy theo trường hợp suy nhiều hay ít, có thể phân ra ba trường hợp: Thứ nhất là phù thũng và tim hồi hộp. Thứ hai phù thũng và tiêu hóa không kiện toàn, đầy bụng, ăn không tiêu. Thứ ba là ho mãn tính, thở hụt hơi và suyễn, cuối cùng là thận bất nạp khí.



Nhiều loại bệnh liên quan tới thận dương suy được Tây y định bệnh: Viêm thận mãn tính, đau lưng, sinh lý yếu, bất lực, tiêu nhiều và bệnh tiền liệt tuyến, nang thượng thận yếu, giảm năng tuyến giáp trạng (hypothyroidism), suyễn mãn tính hay khí thũng, bệnh tim, viêm đường ruột mãn tính, lỵ mãn tính, phù do trai gan, và phù thũng toàn thân, nhất là ở dưới thắt lưng, cảm thấy nặng nề và đau, tiểu ít, tứ chi lạnh, sợ lạnh, tinh thần mệt mỏi, sắc diện trắng bệch. Lưỡi mập, trắng và rêu lưỡi trắng và dầy. Mạch trầm trì.



Phương pháp trị: Bổ thận, tỳ dương và lợi tiểu, trừ viêm. 



Bát Vị Ðịa Hoàng Thang 

Phục linh 9 grs 

Mẫu đơn bì 9 grs 

Quế bì 3 grs 

Thục địa 15 grs 

Sơn thù du 9 grs

Phụ tử 6 grs

Trạch tả 9 grs

Hoài sơn 9 grs 



Bát vị địa hoàng thang trong Ðông y được dùng chữa trị những loại bệnh sau: Phù thũng, tê tứ chi, bao tử ứ nước, tiểu đường. Toa thuốc này mục đích chính là tái tạo lại sự suy của thận dương, nang thượng thận và sản xuất lại tinh. Thường cho bệnh nhân quá mệt mỏi và suy nhược, ăn uống chậm tiêu, táo bón, tiểu khó, tiểu nhiều, khát nước kèm khô lưỡi, đau lưng, yếu vùng rốn.



Nhiệm vụ của từng vị trong bài thuốc:



-Thục địa: Gia tăng sức lực, bổ dưỡng và nuôi dưỡng.



-Sơn thù du: Gia tăng sức lực, tăng cường thận, ấm bụng và chân, gia tăng sinh lực cho nam giới.



-Hoài sơn: Nuôi thận, giảm lạnh thân thể và giúp da trở lại mượt mà.



-Mẫu đơn bì: Tan máu cục và giảm đau.



-Phục linh: Thoát nước.



-Trạch tả: Gia tăng đường tiểu tiện và giảm khát.



-Quế bì: Giúp cho thục địa trong sự lưu thông máu và phục linh còn gia tăng sự tiểu tệạn ở vùng hạ tiêu.



-Phụ tử: Gia tăng thân nhiệt, tái tạo lại trách nhiệm của tạng phủ bị suy yếu và ăn khó tiêu sẽ nhờ phục linh và quế khai thông.



Gia:



-Trư linh 9 grs, trạch tả 9 grs: Tiêu thấp, lợi tiểu, trị phù thũng.



-Bạch truật 9 grs, sa nhân 6 grs, mộc hương 6 grs: Kiện tỳ, kiện toàn tiêu hóa và hóa thấp.



-Ngưu tất: Dẫn thuốc xuống chân.



Chữa trị những bệnh sau đây: Phù thũng toàn thân hay bán thân, bệnh lao phổi, viêm bể thận, chứng có albumin trong nước tiểu, tiểu khó, tiểu không thông, bệnh tiểu đường, xuất huyết não, áp huyết cao, áp huyết thấp, thiếu máu, xuất tinh sớm, bất lực, không cương cứng được, đau lưng, đau thần kinh tọa, thoái hóa xương sống, tê chân và phù thũng, mộng mắt, áp huyết mắt, cận thị, ngứa cửa mình, khô da, chứng mề đay và bệnh lậu.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT