Bác Sĩ Đặng Trần Hào tốt nghiệp bác sĩ y khoa Đông Phương tại Samra University, Los Angeles, năm 1987, và được mời tham dự hội đồng State Board về Châm Cứu và Đông Dược. Mục này giúp cho ai muốn tìm hiểu về Đông Dược và muốn góp ý cho kho tàng Đông Dược phong phú hơn để phục vụ bệnh nhân. Quý vị có thể liên lạc bác sĩ qua email: [email protected] hoặc điện thoại (714) 714-0564 office và (714) 553-6183 cell.
Bác Sĩ Đặng Trần Hào

Theo Y Khoa Đông Phương ho có cấp tính, mãn, hàn, nhiệt, phế mất quân bình, và tỳ khí suy… gây ra ho có những triệu chứng khác nhau.
Chúng ta sẽ tìm hiểu ho mãn tính do phế khí suy và phế hỏa, khô sinh ra.
Do phế khí suy
Phế chủ khí, là vật chất trọng yếu để duy trì sự sống. Khí được tạo bởi hai nguồn: một là khí ở trời do phế hít vào; hai là tinh khí trong đồ ăn uống vào dạ dày được phối hợp với tì và chuyển hóa thành hai phần khí. Phần thanh khí chuyển lên phổi để đưa vào tim đi nuôi cơ thể. Phần trọc khí đưa xuống ruột non, ruột già thanh lọc một lần nữa, phần thanh đưa lên phế và phần trọc đưa xuống ruột già và bàng quang thải ra ngoài. Hai khí này kết hợp lại chứa ở lồng ngực gọi là “tôn khí.” Tôn khí là nguồn gốc của khí trong toàn thân có nhiệm vụ trao đổi hít-thở, dồn về tâm và đưa vào kinh mạch đi nuôi cơ thể.
Tâm chủ về huyết và phế chủ về khí. Cơ thể nhờ sự vận hành tuần hoàn của khí huyết để vận hành chất dinh dưỡng, duy trì hoạt động cơ năng hoạt động nhịp nhàng giữa các tạng phủ. Tâm với phế, huyết với khí nương tựa nhau tạo nên sự làm việc chặt chẽ và nhịp nhàng trong thân thể của chúng ta.
Phế còn thông điều thủy đạo, và túc giáng: Nếu phế mất khả năng túc giáng, sự thay đổi cũ-mới của thủy dịch sẽ gây ra trở ngại, thì thủy dịch sẽ dồn lại, tiểu tiện sẽ không thông, lâu ngày sẽ sinh ra phù thũng. Phế chủ về khí, cho nên lỗ chân lông cũng gọi là “khí môn.” Người bệnh phế khí hư có thể gây ra ho mãn tính và da lông cũng thường bị hư yếu, hay ra mồ hôi còn dễ bị cảm khi thời tiết đổi từ nóng sang lạnh, hay đổi từ Thu sang Đông là như vậy.
Một khi thận dương suy, ảnh hưởng tới phế khí suy gây ra thận bất nạp khí. Bệnh nhân thở hụt hơi, có nghĩa hít vào ngắn hơn thở ra, ho lâu không khỏi, tiếng ho thấp, khẽ, đờm nhiều, sắc trắng, mỏi mệt, đau phần dưới lưng, sợ lạnh, tinh thần mệt mỏi, hay sợ.
Bài thuốc
Hồng sâm 12 gram
Phục linh 9 gram
Sơn thù du 9 gram
Bạch truật 9 gram
Sa nhân 9 gram
Hoài sơn 9 gram
Thục địa 12 gram
Hoàng kỳ 9 gram
Quế bì 9 gram
Phụ tử 9 gram
Tử tô tử gram
Khoảng đông hoa 9 gram
Tử uyển 9 gram
Bách bộ 9 gram
Bán hạ 9 gram
Cát cánh 9 gram
Cam thảo 6 gram
Tác dụng của các vị thuốc:
-Hồng sâm, quế bì, phụ tử: Bổ thận dương.
-Sa nhân, bạch truật, phục linh, cam thảo: Tứ quân tử thang, bổ tì khí và thận khí.
-Thục địa, hoài sơn: Gia tăng khí lực, bổ máu và nuôi dưỡng cơ thể.
-Tử tô, khoảng đông hoa, tử uyển, bách bộ, bán hạ: Tuyên phế, giáng khí, hóa đàm.
Bài thuốc này giúp cho thận và phế ấm lại, người bệnh cảm thấy phấn chấn, hết ho, hết sợ lạnh, sợ gió, hơi thở trở lại bình thường, bớt đi tiểu nhiều lần và nhất là khi ho nước tiểu không bị rỉ ra nhất là đối với phụ nữ. Lý do thận khí suy là cơ vòng bị nhão ra không đàn hồi theo như ý mình muốn, vì vậy phải bổ thận khí.

Do phế âm suy
Thận âm suy thường đưa tới phế âm suy, ho lâu không khỏi, đờm ít hoặc không có đờm, có lẫn sợi huyết, kèm sốt nhẹ vào buổi chiều và đêm, lòng bàn tay và chân nóng, miệng khô, họng ráo. Thêm thận âm suy đau thắt lưng, nhức trong xương, yếu đầu gối, lưỡi đỏ và khô. Mạch vi sác.
Lục Vị Địa Hoàng Thang
Phục thần 9 gram
Sơn thù du 9 gram
Thục địa 12 gram
Mẫu đơn bì 6 gram
Trạch tả 9 gram
Hoài sơn 9 gram
Tác dụng của các vị thuốc:
-Phục thần: An tâm, lợi tiểu, thanh hư hỏa.
-Sơn thù du, thục địa, mẫu đơn bì: Bổ thận âm và thanh hư hỏa.
-Trạch tả, hoài sơn: Lợi tiểu và bổ thận.
Gia:
-Hoàng cầm (9 gram), tri mẫu (6 gram), xuyên bối mẫu (9 gram): Thanh hỏa,tiêu thấp, tiêu đàm.
-Mạc môn đông (9 gram), thiên môn đông (9 gram), cát cánh (9 gram), bán hạ (9 gram), tang bạch bì (9 gram): Bổ phế âm, nhuận phế, tiêu đàm và lợi tiểu.
-Kim ngân hoa (9 gram), sinh khương (9 gram),tử tô tử (9 gram): Giảm sưng phế quản, tiêu đàm, và giáng phế khí.
-Đương qui (9 gram), xuyên khung (9 gram): Bổ âm và thông huyết.
Một khi phế yếu không hít thở được đầy đủ oxy cần thiết cho cơ thể và tế bào, có cơ hội bị ung thư nhiều hơn người có phế khí khỏe đề lấy đầy đủ oxy. [hp]


























































































