Bác Sĩ Đặng Trần Hào
Âm đạo phụ nữ bài tiết ra chất nước vàng, dính, dầm dề không dứt, có mùi tanh hôi gọi là hoàng đái.

Đái hạ lượng nhiều, sắc vàng xanh như mủ, mùi hôi tanh, thường đi kèm với đại tiện bón, tiểu tiện vàng, bệnh nhân cảm thấy nặng nề, nhức mỏi, tâm thần không sáng suốt, ngồi đâu ngủ đó, mắt hụp xuống, nhưng lại không ngủ được. Một khi thấp nhiệt dồn xuống hạ tiêu, tới bào cung gây ra hoàng đái.
Chữa hoàng đái đây hàm ý nói bệnh hoàng đái liên quan tới đái mạch trong châm cứu. Đái mạch khởi đầu từ dưới sườn cụt, quanh một vòng qua lưng, sang bụng rồi hội tụ với đường kinh túc thiếu dương (đởm), và gặp mạch nhâm.
Khi đái mạch thụ bệnh thì bụng đầy chướng, phụ nữ thì đau bụng dưới, kinh nguyệt không đều, xích hoàng đái hạ.
Vì đái mạch vòng quanh lưng rốn, rồi thông với mạch nhâm, mà mạch nhâm đi lên môi, răng, mà môi và răng là nơi có mạch nước không bao giờ cạn, nước này chảy xuống mạch nhâm mà sinh tinh. Khi mạch nhâm bị nhiệt thao túng nhiều, thì nước ở bào cung thay vì hóa tin , lại hóa thấp nhiệt.
Thấp là do tì khí suy không kiện toàn tiêu hóa từ thủy hình thành. Nhiệt là do hỏa khí từ gan hỏa thuộc hành mộc sinh ra. Thủy sắc đen, hỏa sắc đỏ và hồng. Nay thấp với nhiệt gặp nhau, hỏa muốn hóa sắc hồng không được, còn thủy muốn hóa sắc đen cũng không xong, cho nên kết hợp lại với nhau thành một chất nước vàng, không theo sắc bản của thủy hỏa mà hóa, lại theo thấp khí mà hòa. Do đó mạch đái mới chảy ra nước màu vàng mà gọi là hoàng đái.
Vì đái mạch và tì thổ suy là do hỏa của hành mộc, mà hỏa của hành mộc là do thận âm suy gây ra can hỏa vượng (thuộc mộc). Công với tì thổ suy gây ra thấp. Vì vậy muốn chữa hoàng đái, chúng ta phải bổ tì khí, đái mạch và thanh hư hỏa của thận thủy, thì bệnh mới hết được.
Bài thuốc
-Phục linh 9 gram
-Đảng sâm 9 gram
-Bạch truật 9 gram
-Hoài sơn 9 gram
-Khiếm thực 9 gram
-Hoàng bá 9 gram
-Trạch tả 9 gram
-Xa tiền tử 9 gram
-Độc hoạt 9 gram
-Tục đoạn 9 gram
-Đỗ trọng 9 gram
-Đại táo 3 trái
Nhiệm vụ các vị thuốc:
-Phục linh, bạch truật, đảng sâm: Bổ tì khí và tiêu thấp.
-Khiếm thực, hoài sơn, trạc tả, xa tiền tử: Bổ nhâm mạch và lợi thủy.
-Hoàng bá, độc hoạt, tục đoạn, xa tiền tử: Hóa thấp và thanh hỏa cho thận thủy, giả nhiệt cho mạch nhâm.
-Đỗ trọng: Lợi tiểu, bổ thận, tiêu thấp thanh nhiệt.
-Đại táo: Bổ huyết và phối hợp các vị thuốc.
Nếu kiểm chứng bụng dưới trướng đau, tâm phiền khát nước, hoàng đái ra mùi rất hôi. Rêu lưỡi vàng nhợt, chất lưỡi tía, tối, là do thấp nhiệt nung nấu tích độc uất lại ở bào cung gây khí trệ, huyết nghẽn.
Bài thuốc
-Liên kiều 12 gram
-Kim ngân hoa 9 gram
-Bồ công anh 9 gram
-Hoàng cầm 9 gram
-Mẫu đơn bì 9 gram
-Địa cốt bì 9 gram
-Cù mạch 9 gram
-Xích thược 9 gram
-Xa tiền tử 9 gram
-Đông qua tử 20 gram
-Hoàng bá 9 gram
-Độc hoạt 9 gram
-Đại táo 3 trái
Nhiệm vụ các vị thuốc:
-Liên kiều, kim ngân hoa, bồ công anh: Thanh nhiệt, giải độc.
-Hoàng cầm, hoàng bá, độc hoạt: Hóa thấp.
-Mẫu đơn bì, địa cốt bì, xa tiền tử: Bổ thận, thanh giả nhiệt.
-Đông qua tử, cù mạch, xích thược: Trị hoàng đái.
-Đại táo: Phối hợp các vị thuốc.
Đái hạ ra vàng trắng lâu ngày, sinh chất dính, ăn không ngon, lười ăn, chân tay tê mỏi, vùng ngoài âm đạo ngứa ngáy khó chịu và có mùi tanh là do tì hư thấp trọc, dồn xuống hạ tiêu, âm ỉ thành nhiệt.
Bài thuốc
-Phục linh 12 gram
-Khiếm thực 12 gram
-Liên tu 9 grm
-Sơn dược 12 gram
-Ý dĩ nhân 12 gram
-Hoàng bá 12 gram
-Bạch truật 9 gram
-Đảng sâm 9 gram
-Cam thảo 6 gram
Nhiệm vụ các vị thuốc:
-Phục linh, bạch truật, đảng sâm: Bổ tì khí và hóa thấp.
-Khiếm thực, ý dĩ nhân: Lợi thủy.
-Hoàng bá: Khử thấp hạ tiêu.
-Liên tu: An tâm.
-Sơn dược: Bổ thận và tì khí.
-Cam thảo: Phối hợp các vị thuốc. [qd]























































































