Bác Sĩ Đặng Trần Hào
Hành kinh tới muộn từ 10 ngày hay trên một tháng, đôi khi vài tháng mới có kinh lại, thường do thận dương suy, kéo dài không chữa, đưa tới tỳ khí suy, ăn không được, lâu ngày gây ra thiếu máu và cuối cùng đưa tới cả khí và huyết đều suy mà thành bệnh.

Thận dương suy do hai nguyên nhân, tiên thiên và hậu thiên. Tiên thiên do cha mẹ yếu sinh ra chúng ta yếu. Hậu thiên là do hoàn cảnh sinh sống vì thiếu thốn dinh dưỡng, sợ hãi quá độ, hay lơi dụng sinh lý quá độ làm thận suy.
Thân dương suy còn gọi là mạng môn hỏa suy: Bệnh nhân lạnh tứ chi, mặt trắng bệch hay đen kịt, đau vùng thắt lưng, mất thính giác, nước tiểu trắng trong, đi tiểu nhiều lần, ngày nhiều hơn đêm, phù chân, nhạt miệng, rêu lưỡi trắng. Mạch trầm, trì và vô lực.
Thận dương suy thường đi theo với tỳ khí suy, bệnh nhân ăn không được nhiều và khó tiêu, đầy hơi, bụng sình trướng, mệt mỏi. Vì không ăn được, không đủ dưỡng chất để sinh huyết cho nên thiếu huyết.
Quý bà bị thận dương và tỳ khí suy lâu ngày gây ra kinh nguyêt rối loạn và hành kinh trễ, lượng ít, có thể đưa tới kinh bế không thụ thai được, đau váng, ù tai, tinh thần mệt mỏi, và đầu gối bất lực, chân tay lạnh và sợ lạnh, mặt tối sạm, đó là khí huyết đều suy.
Chủ trị: Bổ thận dương, tỳ khí, và điều hòa kinh nguyệt.
Bài thuốc
-Phục linh 9 gram
-Mẫu đơn bì 9 gram
-Quế bì 6 gram
-Thục địa 15 gram
-Sơn thù du 9 gram
-Phụ tử 3 gram
-Hoài sơn 9 gram
-Trạch tả 9 gram
-Đương quy 9 gram
-Xuyên khung 9 gram
-Bạch truật 9 gram
-Đảng sâm 9 gram
-Can khương 9 gram
-Sa nhân 3 gram
-Hương phụ 12 gram
-Nhân trần 9 gram
-Ích mẫu 9 gram
-Hà thủ ô 9 gram
-Đại táo 3 trái
Nhiệm vụ các vị thuốc:
-Thục địa: Gia tăng sức lực, bổ dưỡng và nuôi dưỡng.
-Sơn thù du: Gia tăng sức lực, tăng cường thận, làm ấm bụng và chân.
-Hoài sơn: Nuôi thận, giảm sự lạnh của thân thể và giúp da trở lại mượt mà.
-Mẫu đơn bì: Làm tan máu cục và giảm đau.
-Phục linh: Làm thoát nước.
-Trạch tả: Gia tăng đường tiểu tiện và giảm khát.
-Quế bì: Giúp cho thục địa trong sự lưu thông máu và phục linh còn gia tăng sự tiểu tiện ở vùng hạ tiêu.
-Phụ tử: Gia tăng thân nhiệt, tái tạo lại trách nhiện của tạng phủ bị suy yếu và ăn khó tiểu sẽ nhờ phục linh và quế khai thông.
-Bạch truật, đảng sâm, sa nhân, can khương: Bổ tỳ khí và ôn trung tiêu.
-Đương quy, xuyên khung, hà thủ ô: Bổ máu.
-Nhân trần, ích mẫu: Thông kinh.
-Hương phụ: Điều hòa kinh nguyệt
-Đại táo: Bổ máu và phối hợp các vị thuốc.

Kinh nguyệt trước sau không nhất định
Chứng này chỉ phụ nữ khi hành kinh hoặc trước, hoặc sau không định kỳ, hành kinh không thoải mái kèm theo hòn cục, lượng huyết nhiều hoặc ít, sắc kinh nhợt hoặc tối, hoặc kèm theo cục huyết, sợi huyết, bụng dưới trướng, ngực sườn đau âm ỉ lâu ngày không khỏi, bệnh thuộc huyết hư, ứ trệ.
Bài thuốc
-Đảng sâm 15 gram
-Phục linh 9 gram
-Sanh địa 12 gram
-Xuyên khung 9 gram
-Bạch truật 9 gram
-Đương quy 9 gram
-Xích thược 9 gram
-Ích mẫu thảo 9 gram
-Hồng hoa 9 gram
-Đào nhân 9 gram
-Chỉ xác 9 gram
-Hương phụ 9 gram
-Đại táo 3 trái
Nhiệm vụ các vị thuốc:
-Đảng sâm, bạch truật, phục linh: Bổ tỳ và thận khí.
-Sanh địa, xuyên khung, đương quy: Bổ huyết và thông huyết.
-Xích thược: Điều hòa kinh nguyệt và bổ huyết.
-Ích mẫu thảo, hồng hoa, đào nhân: Phá bí và loãng huyết.
-Đại táo: Bổ huyết và phối hợp các vị thuốc.
-Chỉ xác: Tản khí hai bên sườn.
-Hương phụ: Điều hòa kinh nguyệt. [qd]























































































