Mục này chỉ nhằm giải đáp các thắc mắc về sức khỏe có tính cách tổng quát. Với các vấn đề cụ thể, chi tiết của từng bệnh nhân, xin liên lạc với bác sĩ để được thăm khám trực tiếp. Nhiều thông tin thiết thực và bổ ích khác về sức khỏe cũng được phát trên đài Radio Chuyện Sáng Chủ Nhật ở vùng Orange County, California, vào mỗi sáng Chủ Nhật từ 6 đến 9 giờ, trong chương trình “Câu Chuyện Sức Khỏe Sáng Chủ Nhật.” Nhiều thông tin sức khỏe bổ ích khác cũng có thể tìm thấy trên các website www.nguyentranhoang.com và www.radiochuyensangchunhat.com. Quý vị có thể liên lạc bác sĩ qua email: [email protected] hoặc điện thoại (714) 531-7930.
Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng

Tóm tắt các kỳ trước:
Suy nghĩ bị méo mó hay rối loạn nhận thức (cognitive distortions) là những mẫu suy nghĩ cường điệu không dựa trên sự thật. Điều này dẫn đến việc ta nhìn nhận những thứ một cách tiêu cực hơn so với thực tế.
Nói cách khác, rối loạn nhận thức là khi tâm trí của ta thuyết phục ta tin vào những điều tiêu cực không hoàn toàn đúng sự thật, về chính ta và thế giới xung quanh ta.
Suy nghĩ của chúng ta ảnh hưởng rất lớn đến cảm xúc và hành vi của chúng ta. Khi cho, (chấp) rằng những suy nghĩ tiêu cực này là sự thật, ta có thể hành xử dựa trên giả định sai lầm.
Sau đây là một số dạng suy nghĩ bị méo mó (cognitive distortions) thường gặp:
-Lọc thông tin
-Cực đoan hóa
-Khái quát hóa quá mức
-Giảm giá những điều tích cực
-Rút ra kết luận quá sớm
-Phóng đại hóa vấn đề
-Cá nhân hóa quá mức
-Giả định sai lầm về việc kiểm soát
-Định kiến về sự công bằng
-“Nên phải”
-Lý do cảm xúc
-Giả định thay đổi
-Gán nhãn, “chụp mũ”
-“Luôn luôn đúng”
Lọc thông tin (Filtering): tập trung vào chi tiết tiêu cực và bỏ qua tất cả các thông tin tích cực. Giống như nhìn qua cửa sổ dơ bẩn, chỉ cho ta thấy một phần ánh sáng và chặn đi phần (tươi sáng) còn lại.
Polarization (tư duy định kiến, cực đoan): Là một dạng tư duy méo mó, khi mà một người chỉ suy nghĩ theo hai phía tuyệt đối, đen hoặc trắng, và không chấp nhận được những giá trị trung gian hay màu xám trong cuộc sống. Điều này dẫn đến cái nhìn sai lệch về thế giới xung quanh và những sự kiện trong cuộc sống, khiến cho người bị ảnh hưởng của tư duy định kiến gặp khó khăn trong việc giữ động lực, giữ lòng tự tin và duy trì mục tiêu dài hạn.
Khái quát hóa quá mức (overgeneralization): Khái quát hóa quá mức là xây dựng các phổ quát rộng dựa trên bằng chứng hạn chế hoặc một sự kiện duy nhất. Điều này xảy ra khi ta lấy một kinh nghiệm tiêu cực hoặc một thông tin duy nhất và áp dụng nó vào tất cả các tình huống tương tự, liên quan đến người hoặc khía cạnh của cuộc sống của mình.
Khi khái quát hóa quá mức, ta thường bỏ qua những sự khác biệt và biến thể tồn tại trong các tình huống khác nhau. Ta lấy một kết quả tiêu cực hoặc một trường hợp cụ thể và kết luận rằng nó đại diện cho một mẫu luôn xảy ra. Ví dụ, nếu khi trượt môn toán, ta có thể nghĩ, “Tôi rất tệ ở toán. Tôi sẽ không bao giờ giỏi bất kỳ môn học nào.” Trong trường hợp này, ta mở rộng kinh nghiệm tiêu cực của việc trượt môn toán để suy ra rằng ta sẽ thất bại ở tất cả các môn học.
Giảm giá trị những điều tích cực
Giảm giá trị những điều tích cực (discounting the positive) là một thiên hướng tư duy sai lệch, khi ta có xu hướng coi thường, lờ đi, hoặc đánh giá thấp các trải nghiệm, sự kiện hoặc khía cạnh tích cực trong cuộc sống của mình. Điều này có nghĩa là ngay cả khi có những điều tốt đẹp xảy ra, ta thường coi nhẹ ý nghĩa của chúng hoặc quy cho chúng là do các yếu tố bên ngoài thay vì nhận ra chúng là những thành tựu hoặc trải nghiệm tích cực.
Cơ bản, việc giảm giá những điều tích cực là việc coi nhẹ hoặc không đặt mức độ quan trọng đúng mức vào các khía cạnh tích cực của cuộc sống trong khi tập trung nhiều hơn vào các khía cạnh hoặc trải nghiệm tiêu cực.

Tác động của việc giảm giá những điều tích cực đến sức khỏe tâm lý và sức khỏe tổng quát có thể như sau:
Tư duy tiêu cực: Liên tục giảm giá những điều tích cực có thể góp phần vào tư duy tiêu cực, khi người ta tập trung chủ yếu vào các khía cạnh tiêu cực của cuộc sống. Điều này có thể dẫn đến cảm giác không hài lòng, bi quan và giảm sự hài lòng tổng thể với cuộc sống.
Tự tôn thấp: Việc giảm giá những điều tích cực thường liên quan đến việc đánh giá thấp thành tựu, sức mạnh và phẩm chất tích cực của bản thân. Điều này có thể làm suy yếu sự tự tôn và tự tin, khi người ta không nhận ra và chấp nhận giá trị và khả năng của mình.
Gây ra và làm trầm trọng thêm căng thẳng và lo âu: Việc liên tục giảm giá những trải nghiệm tích cực và lưu ý đến những điều tiêu cực có thể dẫn đến sự căng thẳng và lo âu gia tăng. Thói quen lờ đi hoặc đánh giá thấp những sự kiện tích cực có thể khiến người ta cảm thấy áp lực từ những tiêu cực và làm hạn chế khả năng đối phó hiệu quả với những nguyên nhân gây căng thẳng.
Giảm sự đàn hồi, sức bật: Bằng cách giảm giá những điều tích cực, người ta có thể gặp khó khăn trong việc phát triển sức bật để vượt qua những thất bại. Tập trung chủ yếu vào các khía cạnh tiêu cực có thể làm khó khăn việc tìm động lực, duy trì sự lạc quan và kiên trì đối mặt với những thách thức.
Ảnh hưởng đến mối quan hệ: Việc giảm giá những điều tích cực có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ cá nhân. Khi người ta thường xuyên đánh giá thấp những khía cạnh tích cực, điều này có thể gây thiếu sự đánh giá cao hoặc biết ơn đối với người khác. Điều này có thể gây căng thẳng trong các mối quan hệ và góp phần tạo ra các tương tác tiêu cực với khuynh hướng nặng về chỉ trích hơn.
Giới hạn niềm vui trong cuộc sống: Bằng cách giảm giá những trải nghiệm tích cực, người ta có thể bỏ qua việc tận hưởng hoàn toàn khoảnh khắc hiện tại và không thể trải nghiệm niềm vui và lòng biết ơn. Điều này có thể làm giảm lòng vui sống, yêu đời, do giảm khả năng trải nghiệm niềm vui và lòng biết ơn.
Đối với sức khỏe thể chất, mặc dù việc giảm giá những điều tích cực chủ yếu ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý, nó cũng có thể có tác động gián tiếp đến sức khỏe thể chất. Căng thẳng kéo dài và mô hình tư duy tiêu cực liên quan đến việc giảm giá những điều tích cực đã được liên kết với một loạt vấn đề về sức khỏe thể chất, bao gồm suy giảm hệ miễn dịch, gây ra vấn đề về tim mạch và sự gián đoạn trong giấc ngủ.
Do đó, nhận ra tác động của việc giảm giá những điều tích cực đến sức khỏe tâm lý và sức khỏe tổng quát, và nỗ lực để phát triển một cái nhìn cân đối và tích cực hơn là điều rất quan trọng cho sức khỏe (như là một tình trạng hoàn toàn thoải mái kể cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh – như định nghĩa về sức khỏe của Tổ Chức Sức Khỏe Thế Giới – WHO.) [hp]




































































































































