Trần Doãn Nho
Do hoàn cảnh phát sinh, văn học hải ngoại khác với văn học trong nước, khác với văn học miền Nam trước đây. Tôi xin nêu lên, hay đúng hơn, nhấn mạnh một vài nét riêng của văn học hải ngoại. Ngồ ngộ, là lạ, vui vui…

Tự phát
Họ thoát ra khỏi đất nước, vội vã, tất tả, hoảng loạn, trôi dạt vô hướng, để bắt đầu lại từ con số “không.” Trong tình huống đó, im lặng chịu đựng và chấp nhận hoàn cảnh là điều duy nhất; thảng hoặc nếu có ai cầm bút viết lên một cái gì đó, thì chỉ là tiếng kêu than tuyệt vọng cá nhân, mỗi người một kiểu, một cách. Đó là những phản ứng nhân sinh tự nhiên, tự phát từ thân phận lạc loài của những người, thoắt cái, bỗng nhiên trở thành con sâu cái kiến lạc loài vô xứ. Cho đến một lúc, khi những tiếng kêu đơn lẻ, rời rạc đó kéo dài, gắn kết với nhau, nương tựa nhau, biến thành một tiếng kêu tập thể. Chẳng khác gì những câu hò câu hát vu vơ trên ruộng đồng hợp thành văn chương bình dân, những tiếng kêu tự phát trong sự đụng độ tàn nhẫn với cuộc sống kết hợp lại thành văn học hải ngoại.
Chẳng thế mà, nhà văn Lê Thị Huệ nói thẳng, không một chút ấp a ấp úng:
“Thế giới chữ nghĩa nghệ thuật hải ngoại là một thứ sinh hoạt vô tổ chức. Không có chính phủ nào ra lệnh phải sáng tác theo chỉ đạo nào. Không có nền chính tả học đường nào kiểm soát những điều chúng tôi viết. Ai muốn viết gì thì viết. Ai muốn xuất bản gì thì xuất bản. Ai muốn phê bình gì thì phê bình. Một thế giới cực kỳ vô tổ chức vô địa lý vô quốc gia. Thế nhưng cũng từ đó chúng tôi tự kỷ luật (self-discipline).” [1]
Một phát biểu chắc nịch, lạ tai, tưởng như “quá đáng,” nhưng hoàn toàn chính xác.
Tự phát, cũng có nghĩa là tự do.
Nói như Hoàng Hưng, trước sau, văn học hải ngoại là nền văn học “không có ai lãnh đạo và không chịu sự lãnh đạo của ai.” [2]
Tự túc
hải ngoại, nơi tiếng Việt chỉ như một ngôn ngữ ký sinh, không ai có thể kiếm sống bằng nghề viết lách. Một là, số lượng độc giả văn chương quá giới hạn, đã ít ỏi lại phân tán khắp nơi trên thế giới; hai là, ai cũng có thể kiếm sống một cách dễ dàng bằng cách đi làm ở các hãng xưởng; ba là, nhu cầu hội nhập lớn hơn nhu cầu bảo tồn. Nếu còn ở lại Việt Nam, nhiều nhà văn (nổi tiếng ở hải ngoại hiện nay) rất có thể chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện viết lách. Đơn giản là vì họ sống trong môi trường của mình, chan hòa tiếng mẹ đẻ, chẳng cần phải sử dụng nó để trải lòng. Ra hải ngoại, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ bên lề, có nguy cơ biến mất, và chính điều đó, lạ thay, lại kích thích một nhu cầu bức thiết: tìm lại quê hương qua hơi hám chữ nghĩa. Viết là sống lại một cuộc sống thân quen đã bị đánh cắp. Viết cũng là một cách đối phó với những xa lạ bị áp đặt. Phổ biến chúng với đồng hương là một cách sưởi ấm nhau bằng ký ức, tiếng nói, hơi văn và vần điệu.
Mô tả hình ảnh một người bạn văn mê viết, Nguyễn Hưng Quốc kể:
“Bạn tôi, Hoàng Ngọc-Tuấn…. Anh dạy nhạc. Anh viết trong các giờ giải lao. Nhiều lúc, lúc đám học trò ngồi tập đánh đàn, anh lôi laptop ra viết hay dịch cái gì đó. Thỉnh thoảng dừng lại, dặn dò học trò một lát, rồi lại viết hay dịch tiếp. Vậy mà anh cũng viết và dịch được cả khối truyện và thơ. Tối, sau khi vợ con đi ngủ hết, anh lại ngồi vào bàn làm việc đến 2,3 giờ sáng. Nếu không viết thì dịch; nếu không dịch thì đọc và chọn bài để đưa lên tờ báo mạng Tiền Vệ. Anh em, bạn bè của anh không ai ngạc nhiên khi nhận được email anh gửi lúc 2, 3 giờ sáng cả. Có khi còn muộn hơn nữa. Tối nào cũng thế. Cũng thức. Cũng, trong khuya khoắt, một mình lui cui với chữ nghĩa. Anh gọi đó là hobby. Nhưng nhiều người thì gọi đó là một cuộc hành xác.” [3]
Các sáng tác, ở miền Nam trước đây, khi viết xong, muốn được đăng báo hay phát hành sách đòi hỏi một số điều kiện: thông qua sự xét duyệt của báo hay của nhà xuất bản, rồi qua kiểm duyệt của nhà nước và cuối cùng, qua sức mua của thị trường. Sáng tác ở trong nước hiện nay có lẽ cũng như thế.
Ở hải ngoại, tình hình hoàn toàn khác. Hầu như để có tác phẩm văn chương, tác giả nào cũng phải tự mình “lo liệu” từ đầu đến cuối. Tự viết, tự phát hành trên trang mạng (hay facebook) của mình hay tự bỏ tiền ra in ấn, rồi gửi đi…biếu bạn bè và độc giả, đôi khi chẳng phải thông qua việc biên soạn của bất cứ ai và qua thủ tục kiểm duyệt (của cơ quan hữu trách). Tóm lại, sản phẩm văn chương đi trực tiếp từ tác giả đến độc giả, không qua một trung gian nào, kể cả thị trường. Đối với tác giả, tác phẩm tự nó, đã là một lợi nhuận; sự hiện diện của nó, đã là một đền đáp. [4]
Tự biên tự diễn
“Văn học hải ngoại,” một nhóm chữ mới thoạt nghe, có vẻ như để chỉ một hệ thống, một hoạt động có tổ chức, có tài trợ, có đường lối chỉ đạo. Thực ra, nó hoàn toàn là kết hợp ngẫu nhiên của những nỗ lực cá nhân rời rạc, lẻ tẻ và thậm chí, tùy hứng. Không hội nhà văn, không trường viết văn, không ngân sách tài trợ, không nhuận bút, đã thế, không hề được khuyến khích hay ca ngợi, mà còn bị chỉ trích hay tẩy chay, khi lỡ phạm sai lầm. Làm văn chương, lắm khi, là nghiệp chướng!
Văn chương hải ngoại không những “rẻ như” mà còn “rẻ hơn” cả bèo (của Tản Đà). Nói cho đúng, vô giá. Còn nhớ, khi mới ra hải ngoại, lần đầu tiên tôi có một truyện ngắn đăng trên tạp chí Văn Học. Chờ lâu không thấy động tịnh gì, tôi gửi thư cho chủ bút Nguyễn Mộng Giác, nhắc xa nhắc gần về chuyện nhuận bút. Anh gửi ngay cho tôi một cái “Money Order” (Phiếu chuyển tiền) [5] 30 dollars, nói là để tôi mua tem dùng khi gửi bài đến tòa soạn. Đã từng nhiều lần nhận được tiền nhuận bút thời trước 1975, nên vui thì vui, nhưng vẫn cảm thấy hụt hẫng vì cách trả tiền không mấy bình thường này. Sao lại tiền mua tem mà không phải tiền “nhuận bút” (潤筆 = tiền trả cho ngòi bút)! Mãi cho đến khi gặp nhau, tôi mới hay, người chủ bút đã gói ghém trong thư một nhắn nhủ tế nhị: văn chương hải ngoại không – thậm chỉ chẳng liên quan gì đến – nhuận bút. Làm (một tạp chí) văn chương không phải là kinh doanh, mà là thực hiện một nghĩa vụ: bỏ công sức và tiền túi ra để nuôi nấng nó.
Đây là hình ảnh của Mai Thảo, chủ biên tạp chí “Văn,” qua vài nét phác họa của Ngô Thế Vinh:
“Khó có thể tưởng tượng cảnh sống đạm bạc của nhà văn Mai Thảo trên đất nước Mỹ. Chỉ là một căn phòng 209 rất nhỏ trên lầu hai của một chung cư dành cho người cao niên ngay phía sau hẻm nhà hàng Song Long. Chỉ có một bàn viết, chiếc giường đơn với nơi đầu giường là một chân đèn chụp rạn nứt và dưới gậm giường mấy chai rượu mạnh; trên vách là mấy tấm hình Mai Thảo; đặc biệt là tấm ảnh phóng lớn có lẽ chụp trước 1975, Mai Thảo cao gầy ngồi trên bậc thềm nhà cùng với nhà thơ Vũ Hoàng Chương mảnh mai trong áo dài the, phía dưới là một kệ sách. (…) Căn phòng nhỏ hẹp ngày nóng đêm lạnh ấy là không gian sống và cũng là toà soạn báo Văn của Mai Thảo. Mỗi lần tới thăm anh, tôi vẫn để ý tới chiếc bàn viết lữ thứ của Mai Thảo kê sát khung cửa sổ thấp nhìn thoáng ra bên ngoài. Rồi tới kệ sách, không có nhiều sách Mai Thảo, chỉ có ít cuốn sách tiếng Pháp, mấy số báo Văn, đôi ba cuốn sách mới bạn văn gửi tặng anh.” [6]
Riêng tôi, gần cả chục năm cộng tác với tạp chí “Văn Học,” tôi chứng kiến khá đầy đủ cái cảnh làm việc đơn thân độc mã của chủ bút Nguyễn Mộng Giác. Ngoài việc chuyên chỉ đi “cày” ca hai tại một công ty điện thoại để nuôi sống gia đình, anh dành tất cả thì giờ còn lại cho “Văn Học.” Để cho báo được phát hành và đến tay người nhận một cách đều đặn, anh bao sân đủ thứ việc không có tên gọi: gửi email vòng vòng “xin” bài của các tác giả, đánh máy bài (của một số tác giả chưa/không biết sử dụng máy vi tính), tự dàn trang, mang đi thuê in; báo in ra, lại huy động vợ con (và bạn bè) đi chở báo, ngồi xúm nhau đóng gói, đi bưu điện gửi báo, rồi đi thu tiền bán báo ở một vài tiệm sách (chỉ đếm được trên đầu ngón tay)… Không bị con “ma” văn chương “ám,” không thể nào duy trì tờ “Văn Học” trong gần hai thập niên như thế.
Ngôi nhà Nguyễn Mộng Giác ở Quận Cam, cách khu thị tứ Phước Lộc Thọ chỉ năm bảy phút lái xe, là nơi đón tiếp nhiều bạn văn từ khắp nơi, kể cả một số thuộc giới viết lách ở trong nước, ghé thăm. Để trả lời cho một nhà văn Hà Nội muốn đi “tham quan” tòa soạn của tờ báo hải ngoại “Văn Học” (“nghe nói” được tư bản Mỹ tài trợ) bề thế đến mức nào, chủ bút Nguyễn Mộng Giác chỉ cái máy vi tính nằm ở góc nhà, xong chỉ vào người mình, rồi dắt khách ra nhà để xe, chỉ hàng ngàn cuốn “Văn Học” còn chất đống ở đó, bảo: “Thưa anh, tòa soạn báo Văn Học chỉ gồm có mấy thứ: nó và tôi và… kho chứa, báo cũ cứ chất lên mãi, chưa biết sẽ xử trí thế nào.”
Tự… vong thân
Chấn động văn hóa biến người di dân luôn luôn sống trong tình trạng bất ổn của môi trường lai ghép, pha trộn, xô lệch, bất ổn. Thể hiện trong văn chương, đó là một thách đố. Về đạo lý, giữa “vọng nội” và “vọng ngoại,” giữa truyền thống và lai-căng. Về chính trị, giữa trung thành và phản bội; giữa chối bỏ và níu kéo. Về ngôn ngữ, giữa giữ gìn và phá bỏ. Hội nhập thành công vào xứ người là xé bỏ lai lịch. Giữ gìn thành công ngôn ngữ và truyền thống của mình là ly khai với hiện thực. Cách này hay cách kia đều đưa đến tình trạng “vong thân” (alienation), tự đánh mất mình. Viết trong thân phận di dân, nhất là di dân tị nạn, là một vong thân kép, tự đánh mất mình hai lần. Nhà văn vừa xa lạ đối với chỗ mình đang ở (đất tạm dung) lại vừa xa lạ nơi mình muốn (nói) về. Cả hai, xứ người và quê hương, đều xa lạ. Không có chỗ nào là “nhà” thực sự. Và đều bị/được cả hai cư xử như “người khác.” Hắn không thuộc về nơi nào cả. Căn cước bản thân của hắn, rốt cuộc, là một tách rời, ly khai.
Viết với hắn, do đó, luôn luôn là một đong đưa, chập chờn, nghiêng ngả. Ca tụng nơi đang tạm cư là mất gốc; khát khao muốn trở về nơi chốn cũ là phụ bạc. Cảm thấy ngập ngừng khi viết, cảm thấy hụt hẫng khi đọc lại. Ấy thế mà vẫn cứ muốn viết, viết hoài. Với hắn, trạng thái vong thân, vô hình trung, trở thành một kích thích để được hiện hữu như một cá thể văn chương. [hp]
———————–
[1] Lê Thị Huệ, Vài Nét Về Sự Khai Phá Nền Văn Chương Tiếng Việt Hải Ngoại
[2] Hoàng Hưng, Phỏng vấn (Da Màu-TDNho)
[3] Nguyễn Hưng Quốc, Viết sách ở hải ngoại https://www.voatiengviet.com/a/viet-sach-o-hai-ngoai-10-01-2010-104191244/882651.html
[4] “Ra mắt sách,” hiện tượng sinh hoạt văn chương chữ nghĩa phổ biến trong cộng đồng người Việt, là một cách giới thiệu, một hình thức chia sẻ hơn là rao bán sản phẩm, như có người bêu riếu.
[5] Phiếu chuyển tiền, do Bưu Điện Mỹ phát hành, thay thế cho ngân phiếu, dành cho những người không có tài khoản ngân hàng
[6] Ngô Thế Vinh, Hành trình đến tự do – Nhà văn thuyền nhân Mai Thảo https://sangtao.org/2016/12/12/hanh-trinh-den-tu-do-nha-van-thuyen-nhan-mai-thao/





























































































































