NEW YORK, New York (NV) – Nhận định về nền kinh tế Mỹ từ các ngân hàng lớn nhất Wall Street đang trở nên ảm đạm hơn, khi nhiều nhà lãnh đạo các ngân hàng thể hiện sự bi quan, nói rằng họ đang chuẩn bị cho một đợt suy thoái tiềm ẩn sau đợt báo cáo kết quả hằng quý hôm Thứ Sáu, 14 Tháng Mười, theo AP.
Ông Andy Cecere, tổng giám đốc U.S. Bank, nhận thấy các điểm áp lực đang hình thành trong một số lãnh vực của nền kinh tế và có thể dẫn đến căng thẳng kinh tế trong tương lai.

Những bình luận như vậy phản ánh chỉ dấu ngày càng nhiều về việc nền kinh tế nước Mỹ và toàn cầu đang suy yếu khi đối mặt với lạm phát và cuộc chiến ở Ukraine. Hôm Thứ Ba, 11 Tháng Mười, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2023 từ 2.9% xuống còn 2.7%.
Một số ngân hàng công bố kết quả hằng quý của họ vào hôm Thứ Sáu, 14 Tháng Mười, từ những công ty khổng lồ như JPMorgan Chase và Citigroup cho đến các ngân hàng siêu khu vực như U.S. Bank và PNC Financial. Trong các phiên trình bày với giới truyền thông và nhà đầu tư, các giám đốc ngân hàng vẽ ra bức tranh hai mặt về nền kinh tế.
Một mặt, họ ghi nhận những tín hiệu tốt như tỷ lệ trả nợ quá hạn thấp, chi tiêu khách hàng ổn định và các khách hàng doanh nghiệp hoạt động tốt. Mặt khác họ cũng để ý đến mức lạm phát cao, thị trường nhà ở sụt giảm và các đợt tăng lãi suất từ Ngân Hàng Trung Ương (Fed) khiến các doanh nghiệp khó khăn hơn khi đi vay.
Ông Peter Torrente, người đứng đầu lãnh vực ngân hàng và thị trường vốn của KPMG, cho biết lạm phát đang phủ bóng đen ảm đạm lên triển vọng tương lai của các ngân hàng.
Lạm phát liên tục ở mức cao trong nhiều tháng, giá cả tiêu dùng trong Tháng Chín tăng 8.2% so với một năm trước. Fed tăng lãi suất thêm ba phần tư điểm lần thứ ba liên tiếp, nâng lãi suất lên mức từ 3% đến 3.25%, mức cao nhất trong vòng 14 năm. Wall Street dự báo Fed sẽ tăng thêm 0.75 điểm phần trăm vào Tháng Mười Một.
Trong bối cảnh đó, Citigroup, Wells Fargo và JPMorgan đang tích trữ tiền mặt trong các khoản dự trữ lỗ cho khoản vay. Những khoản dự trữ này được trích lập để trang trải các khoản nợ xấu tiềm năng. Trong thời kỳ đại dịch, các ngân hàng bỏ hàng chục tỷ đô la vào những khoản dự trữ này, nhưng sau đó xả ra phần lớn số tiền vào năm 2021 khi nền kinh tế được cải thiện.

Hiện nay các ngân hàng lần nữa củng cố những khoản dự trữ này. Chẳng hạn JPMorgan để dành khoảng $1 tỷ, còn Citigroup và Wells dành khoảng $400 triệu cho các khoản dự trữ trong quý này. Tuy nhiên tốc độ có chậm hơn thời kỳ đại dịch bùng phát. Lúc đó JPMorgan thậm chí đưa hơn $10 tỷ vào khoản dự trữ của mình.
Mục tiêu của Fed trong việc tăng lãi suất là hạ nhiệt nền kinh tế và kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên nhiều nhà kinh tế Wall Street và các giám đốc ngân hàng cho biết điều này có thể đi quá xa và khiến nền kinh tế lâm vào suy thoái.
Tổng Giám Đốc Charlie Scharf của Wells Fargo nói với nhà đầu tư rằng ngân hàng này dự kiến các điều kiện kinh tế sẽ suy yếu hơn, dẫn đến việc gia tăng các khoản nợ quá hạn và tổn thất tín dụng.
Còn Tổng Giám Đốc Jamie Dimon của JPMorgan Chase gây chú ý hôm Thứ Hai, 10 Tháng Mười, khi cho rằng những sự kết hợp các nguy cơ có thể dẫn đến suy thoái trong vòng sáu đến chín tháng tới. Tuy nhiên đến Thứ Sáu, 14 Tháng Mười, ông lại nói rằng tình hình người tiêu dùng Mỹ đang ổn.

Khi được hỏi về sự đối nghịch giữa hai nhận xét, ông nói rằng môi trường kinh tế hiện nay “rất kỳ quặc,” khi nợ quá hạn thấp, chỉ số tiêu dùng ổn định nhưng lạm phát lại cao. Ông dự đoán số tiền tiết kiệm của các gia đình Mỹ trong thời kỳ đại dịch có thể bị cạn vào giữa năm 2023 nếu lạm phát không được kiểm soát.
Một điều đúng với các nhận xét của ông Dimon là số tiền người tiêu dùng chi tiêu từ thẻ tín dụng, bởi vì cả ba ngân hàng Wells Fargo, Citigroup và JPMorgan đều ghi nhận mức chi tiêu bằng thẻ tín dụng tăng hơn 10% so với một năm trước.
Tuy nhiên lãnh đạo JPMorgan cho rằng xu hướng này đôi khi chỉ đơn giản là do lạm phát, giá cả tăng khiến số tiền chi tiêu nâng lên. (V.Giang) [qd]
























































