Thành công và thất bại của các đời tổng thống Mỹ trước suy thoái kinh tế

WASHINGTON, DC (NV) – Tình hình kinh tế quốc nội là thước đo sự ủng hộ của dân chúng Mỹ dành cho tổng thống đương nhiệm và đảng cầm quyền.

Tổng sản lượng nội địa (GDP) ở Mỹ liên tục giảm trong khoảng thời gian từ Tháng Tư đến Tháng Sáu, theo dữ kiện được Bộ Thương Mại công bố sáng Thứ Năm, 28 Tháng Bảy, đánh dấu hai quý suy thoái kinh tế liên tiếp, theo báo mạng The Hill.

Tổng Thống Herbert Hoover, nhiệm kỳ 1929-1933. (Hình: Maurice Johnson/AFP via Getty Images)

Mức độ ủng hộ của dân Mỹ đối với Tổng Thống Joe Biden càng lúc càng thấp theo đà tình trạng lạm phát và giá xăng gia tăng hiện nay, dù đây là hậu quả của đại dịch COVID-19 và chiến tranh Nga-Ukraine cũng như hoàn cảnh mà toàn thế giới hiện phải chịu đựng.

Theo kinh nghiệm lịch sử, tình hình kinh tế quyết định sự nghiệp chính trị và di sản của các tổng thống Mỹ. Có vị vượt qua được thử thách kinh tế và tái đắc cử, nhưng cũng có người chỉ ngồi được một nhiệm kỳ dù thành công về đối ngoại, thậm chí là “anh hùng chiến trường.”

Dưới đây là năm tổng thống có nỗ lực khắc phục tình hình kinh tế suy thoái với những kết quả rất khác nhau.

THẤT BẠI

Tổng Thống Herbert Hoover: Cuộc Đại Khủng Hoảng

Gần một thế kỷ trôi qua, Tổng Thống Herbert Hoover, nhiệm kỳ 1929-1933, là ví dụ điển hình về những điều không nên làm trong thời kỳ kinh tế suy thoái.

Các yếu tố dẫn đến cuộc Đại Suy Thoái đã hiện hữu từ trước khi thị trường chứng khoán Wall Street sụp đổ năm 1929, chưa đầy tám tháng sau khi ông Hoover nhậm chức.

Nhưng sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, trong đó, chỉ số Dow Jones mất gần một phần tư giá trị trong hai ngày, kéo theo sự sụp đổ của thị trường tài chính.

Ông Hoover, một người thuộc đảng Cộng Hòa, tin rằng chính phủ không nên can thiệp quá nhiều vào nền kinh tế, và đây là lý do được coi là một trong những sai lầm chính trị tồi tệ nhất thế kỷ 20.

Khi ông Hoover tranh cử để bảo vệ chức tổng thống vào đầu năm 1932, tỷ lệ thất nghiệp đã tăng lên hơn 20%.

Ông Hoover sau đó bị ông Franklin Roosevelt, ứng cử viên đảng Dân Chủ, đánh bại. Ông Roosevelt khi đó cam kết thực hiện kế hoạch “New Deal” đưa Mỹ thoát khỏi suy thoái, giúp ông chiến thắng với cách biệt 18 điểm trong cuộc bỏ phiếu phổ thông. 

Ông Roosevelt là người duy nhất trong lịch sử thắng bốn nhiệm kỳ tổng thống cho đến khi qua đời vào năm 1945, thay đổi cả nền chính trị Mỹ.

Còn danh tiếng của ông Hoover chưa bao giờ được phục hồi.

Tổng Thống Jimmy Carter, nhiệm kỳ 1976-1980. (Hình: Archive Photos/Hulton Archive/Getty Images)

Tổng Thống Jimmy Carter: Lạm phát và tình trạng bất ổn

Nhiệm kỳ của Tổng Thống Jimmy Carter (Dân Chủ) là một ví dụ cho thất bại và đeo bám các tổng thống đảng Dân Chủ kể từ đó.

Ông Carter đem chủ trương khôi phục lại sự chính trực và khiêm tốn cho Toà Bạch Ốc sau vụ bê bối Watergate. Nhưng cuối cùng, ông lại bị coi là thiếu tự tin và kém hiệu quả.

Cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1979 cho thấy một lỗ hổng lớn đầu tiên trong hy vọng tái đắc cử của ông Carter. Lạm phát tăng đến 13% giữa lúc tăng trưởng kinh tế giảm.

Cùng năm, ông Carter có bài diễn văn mà sau đó được bị dèm pha là mang khẩu khí “bất ổn.” 

Tổng Thống Carter thật ra chưa bao giờ thực sự sử dụng từ này và khi đó ông chỉ nhận định nước Mỹ đang bị cuộc khủng hoảng niềm tin “tác động vào chính trái tim và linh hồn của ý chí quốc gia.”

Nhưng đó không phải là điều mà các cử tri Mỹ “cần lạc quan” muốn nghe.

Hiện nay, các cuộc tranh luận trong giới nghiên cứu vẫn nổ ra về việc liệu sự sụp đổ của chính quyền Carter chủ yếu là do vận xui hay do chính sách tồi tệ của ông.

Ông Carter sau đó bị Ronald Reagan (Cộng Hòa) đánh bại chỉ sau một nhiệm kỳ tổng thống.

Tổng Thống George H.W Bush, nhiệm kỳ 1989-1993. (Hình: Luke Frazza/AFP via Getty Images)

Tổng Thống George HW Bush: Chiến thắng Iraq, nhưng kinh tế suy thoái, để rồi thất bại trong tái ứng cử

Thành tích đối ngoại vượt bực của Tổng Thống George HW Bush (Bush cha) không thể che lấp tình trạng suy thoái bên trong nước Mỹ.

Ông Bush (Cộng Hòa), người thắng chức tổng thống năm 1988 sau tám năm làm phó tổng thống dưới chính quyền Reagan, dường như là ứng cử viên “bất khả chiến bại” về mặt chính trị khi thắng vẻ vang Chiến Tranh Vùng Vịnh Lần Thứ Nhất, kết thúc năm 1991.

Quân đội Mỹ nhanh chóng đánh đuổi lực lượng Iraq của Tổng Thống Saddam Hussein ra khỏi Kuwait trong cuộc xung đột này. 

Nhờ đó, ông Bush có được sự tín nhiệm rất cao, 89%, trong một cuộc thăm dò của Gallup vào Tháng Ba, 1991.

Tuy nhiên, mọi thứ lại xoay chiều nhanh chóng.

Trong khi ông Bush nổi bật trên trường quốc tế, thì tăng trưởng kinh tế trong nước bị ảnh hưởng nặng nề.

Tỉ lệ thất nghiệp cũng tăng lên đáng kể, từ khoảng 5% vào thời điểm ông Bush nhậm chức, lên hơn 7% vào năm 1992.

Những người bảo vệ ông Bush khẳng định đất nước đã thoát khỏi suy thoái vào năm 1992 và nền kinh tế trên thực tế đang phát triển với tốc độ khá mạnh mẽ vào thời điểm ngày bầu cử bắt đầu.

Nhưng công chúng lại nhận thức rằng tổng thống không phản ứng trong thời kỳ kinh tế khó khăn.

Ông Bush sau đó thua ông Bill Clinton (Dân Chủ) trong cuộc bầu cử.

Tổng Thống Ronald Reagan (giữa), nhiệm kỳ 1981-1989. (Hình: Fox Photos/Hulton Archive/Getty Images)

THÀNH CÔNG

Tổng Thống Ronald Reagan: Những thời khắc đen tối trước khi ‘Trời sáng ở nước Mỹ’

Tổng Thống Ronald Reagan được các đảng viên Cộng hòa tôn kính và được cho là sẽ khôi phục niềm kiêu hãnh của người Mỹ sau trường hợp ông Carter.

Cả nước đang gặp khó khăn khi ông Reagan nhậm chức. 

Ông Paul Volcker, chủ tịch Ngân Hàng Trung Ương Mỹ, quyết định tăng lãi suất lên trên 16% vào năm 1981 để chấm dứt lạm phát, bất kể tổn thất khác.

Những hành động này góp phần gây ra cuộc suy thoái kinh tế nghiêm trọng, khi tỉ lệ thất nghiệp toàn quốc tăng trên 10% vào cuối năm 1982. Đảng Dân Chủ cũng chiếm thêm 26 ghế Hạ Viện trong cuộc bầu cử giữa kỳ năm đó.

Tuy nhiên, theo thời gian, phương thuốc đắng của ông Volcker bắt đầu phát huy tác dụng.

Nền kinh tế Mỹ bùng nổ vào cuối năm 1983 và đầu năm 1984, công bố mức tăng trưởng GDP khổng lồ 7-8%/năm.

Trong chiến dịch tái tranh cử năm 1984, ông Reagan có một khẩu hiệu nổi tiếng là “Trời sáng ở nước Mỹ” (Morning in America), để rồi sau đó dễ dàng đánh bại ứng cử viên tổng thống đảng Dân Chủ khi đó là ông Walter Mondale, và ở lại Tòa Bạch Ốc thêm bốn năm.

Tổng Thống Barack Obama: Khắc phục khủng hoảng tài chánh 2008

Tổng Thống Barrack Obama (trái), nhiệm kỳ 2009-2017. (Hình: Chip Somodevilla/Getty Images)

Vị tổng thống người da đen đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ nhậm chức trong bối cảnh nền kinh tế quốc gia đang trên bờ vực sụp đổ.

Vào Tháng Giêng, 2009, tháng nhậm chức của Tổng Thống Obama (Dân Chủ), Mỹ mất gần 600,000 việc làm. Tỉ lệ thất nghiệp tiếp tục tăng phần lớn thời gian còn lại của năm, đạt mức cao nhất là 10% vào Tháng Mười, 2009.

Tiến độ cải thiện nền kinh tế, ít nhất là trong vấn đề việc làm, chậm một cách đáng kinh ngạc, khi tỉ lệ thất nghiệp vẫn trên mức 9% trong hai năm kế. Cùng thời điểm đó, đảng Dân Chủ mất quyền kiểm soát Hạ Viện trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2010.

Để bảo vệ tương lai đất nước, và cho chính mình, ông Obama đưa ra một số biện pháp quyết liệt để vực dậy nền kinh tế.

Ông chỉ thị thông qua dự luật kích thích kinh tế trị giá $800 tỷ vào Tháng Hai, 2009. Đạo Luật Dodd-Frank, mang lại những cải cách đáng kể cho hệ thống tài chính, được đưa ra vào năm sau.

Ông Obama cũng ủng hộ và quản lý kế hoạch cứu trợ cho ngành kỹ nghệ xe hơi do người tiền nhiệm của ông, Tổng Thống George W Bush (Bush con), thành lập. Gói cứu trợ được coi là một thành công lớn, dù gây ra nhiều tranh cãi vào thời điểm đó.

Sau khi hạ sát Osama bin Laden, lãnh đạo al Qaeda, thành công vào năm 2011, phó tổng thống khi đó là ông Joe Biden khẳng định: “Bin Laden đã chết và General Motors còn sống.”

Điều này trở thành một trong những khẩu hiệu mạnh mẽ nhất, hỗ trợ ông Obama trong cuộc tranh cử nhiệm kỳ hai. Vào Tháng Mười Một, 2012, ông Obama tiếp tục giữ chức tổng thống sau khi đánh bại ông Mitt Romney, ứng cử viên đảng Cộng Hòa, và thắng 4% trong cuộc bỏ phiếu phổ thông, trở thành nhà lập pháp đảng Dân Chủ đầu tiên kể từ thời Roosevelt hai lần giành được đa số phiếu phổ thông tuyệt đối.

Sự ủng hộ của Tổng Thống Joe Biden bị sụt giảm nặng vì tình hình lạm phát hiện nay. (Hình: Saul Loeb – Pool/Getty Images)

Nước Mỹ đứng trước mối lo kinh tế suy thoái đe dọa Tổng Thống Biden

Tổng Thống Joe Biden đang làm mọi cách để tránh dùng từ “suy thoái” trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, do giá nhiên liệu tăng và làm phát ảnh hưởng.

Việc ghi nhận tăng trưởng kinh tế âm trong hai quý liên tiếp từ lâu được coi là quy tắc xác định thời điểm Mỹ suy thoái và là ngưỡng suy thoái ở các quốc gia khác. Tuy nhiên, các nhà kinh tế ở Mỹ vẫn xem xét một loạt dữ kiện sâu rộng hơn khi xác định liệu Mỹ đang suy thoái hay không.

Tổng Thống Biden và các nhân vật cấp cao khác, bao gồm Bộ Trưởng Tài Chính Janet Yellen, cho rằng tình hình hiện nay đã khác vì một số lý do, trong đó có thị trường việc làm mạnh mẽ.

Hôm Thứ Tư, 27 Tháng Bảy, Fed tăng lãi suất lên 0.75 điểm phần trăm nhằm chống lại lạm phát.

Ông Jerome Powell, chủ tịch Fed, không nghĩ rằng Mỹ “đang rơi vào suy thoái.”

Tổng Thống Biden đang hy vọng rằng mình đưa ra dự đoán đúng. (MPL) [đ.d.]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT