Kalynh Ngô/Người Việt
WESMINSTER, Calif. (NV) – Chỉ trong vòng ba năm trở lại đây, số người tìm đến Trung tâm Y tế Á Châu thuộc Hội Cộng Đồng Người Việt ở Quận Cam (VNCOC) để điều trị căn bệnh trầm cảm (depression) lên đến 600 người. Trong số đó, phần nhiều là những người đang đối diện với môi trường sống mới, hoặc những người vừa bị mất công việc đã làm lâu năm.

Trầm cảm không phân biệt sắc tộc, tuổi tác, giới tính. (Hình: GettyImages)
Trầm cảm không từ một ai
Trầm cảm không phân biệt sắc tộc, độ tuổi, giới tính. Nó có thể đến với bất kỳ ai: giàu, nghèo, sang, hèn và đòi hỏi con người phải dũng cảm đối diện. Giới khoa học thường ví von “trầm cảm như phần chìm của một tảng băng trôi.”
Buổi sáng cuối tuần ở Trung Tâm Y Tế Á Châu khá nhộn nhịp với chương trình “Dịch Vụ Kết Hợp Cộng Đồng,” chương trình chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân về thể chất và tâm lý. Cô Khanh Bành, người giữ vai trò Quan Hệ Đối Ngoại của Trung Tâm Y Tế Á Châu thuộc Hội Cộng Đồng Người Việt Quận Cam (VNCOC) có vẻ ngoài khá trẻ so với công việc cô đang đảm nhiệm, tiếp phóng viên Người Việt ngay tại văn phòng mình.
Đồng ý với định nghĩa “trầm cảm là căn bệnh của thời đại,” cô Khanh nhận định thêm rằng “mỗi một người là một nguyên nhân hoàn toàn khác nhau.”
Nhưng, không phải ai (người bệnh và cả người không bệnh) cũng có thể hiểu về trầm cảm một cách chính xác và tích cực để có hướng chữa trị đúng.
Bệnh nhân tìm đến VNCOC để có sự giúp đỡ về bệnh trầm cảm thường có hai dạng: người bị trầm cảm do đang mang căn bệnh mãn tính (chronic) và người bị trầm cảm do có vấn đề về tinh thần.
Thế nhưng, họ đều có chung một đặc điểm: “Không muốn người khác biết mình đang mang bệnh.”
Cho nên, họ tìm đến VNCOC rất lặng lẽ. Người chồng, người vợ thì không muốn cho người phối ngẫu của mình biết. Người cha, người ông, người mẹ, người bà, thì muốn giấu con cháu của mình. Nói chung, họ đến thầm lặng và chấp nhận điều trị cũng trong thầm lặng.
Đó là câu chuyện của một người đàn ông có học vấn cao, từng là trụ cột trong gia đình với mức lương kỹ sư cao ngất ngưởng. Ông là hình tượng tuyệt vời trong mắt vợ, con mình. Thế rồi một ngày ông mất việc. Ông không chấp nhận được điều đó. Mà nếu nói rằng ông không dám đối diện với điều này cũng đúng. Ông giữ kín bí mật cho riêng mình. Mỗi buổi sáng vẫn chào tạm biệt vợ con rồi ra khỏi nhà như thường nhật. Chỉ khác một điều: ông không đến sở. Ông chạy xe lang thang bên ngoài, ghé vào chỗ này, chỗ kia cho hết ngày làm việc. Cho đến khi sự chịu đựng bị dồn nén đến “ngưỡng” ông không thể đeo vác vào mình nữa, ông tìm đến VNCOC. Các chuyên viên tư vấn cho ông biết “ông đang có nguy cơ mắc phải chứng trầm cảm.” Ông chấp nhận điều trị với một yêu cầu duy nhất: “Đừng cho gia đình tôi biết.”
“Đây là dạng bệnh nhân trầm cảm mà chúng tôi có một thuật ngữ để gọi, đó là ‘economic depression’ – trầm cảm do đời sống kinh tế.” Khanh Bành nói.
Đó cũng có thể là câu chuyện của một phụ nữ tuổi đời không còn trẻ, sang Mỹ đoàn tụ gia đình cùng nhiều hoài bão về cuộc sống tốt đẹp hơn. Thế nhưng, khi đối diện với nền văn hóa hoàn toàn mới, tất cả phải bắt đầu từ đầu với cách biệt quá xa về ngôn ngữ, khí hậu, môi trường sống, và cả kiến thức, họ trở nên hụt hẫng, chới với. Họ cảm thấy “mình đang bị bỏ rơi.” Theo các nhà tâm lý học, thì những người này “luôn cảm thấy thiếu sự quan tâm đúng mức dành cho mình.”
Và cuối cùng, họ cũng dừng chân ở VNCOC, với cùng mong mỏi “đừng cho người nhà biết.”
“Trong cộng đồng Việt ở Quận Cam, tỷ lệ nữ giới mắc bệnh trầm cảm nhiều hơn nam giới. Họ là người có tuổi đời trên 40. Khoảng 20% trong số đó từ Việt Nam mới sang, và 80% là người sống ở Mỹ từ lâu,” Khanh nói về thống kê của VNCOC.
Không phải riêng người “tuổi trẻ đã qua, tuổi già chưa đến” mới bị chứng trầm cảm. Người già, lớn tuổi ở nhà vui với cháu, cũng không ngoại lệ.
Khanh Bành cho biết số người này có, nhưng không chiếm đa số ở Quận Cam. Nguyên nhân các cụ bị trầm cảm là do bệnh già, đau nhức trong người, dẫn đến mệt mỏi khi phải chăm sóc những đứa trẻ và “chịu” những trò đùa nghịch phá của tụi nhỏ. Và những người này thì được gia đình, con cháu dẫn đến khám bệnh khi nhận ra sự “khác thường” trong tâm trạng của các cụ.
Họ có thể là những người có chứng bệnh mãn tính trong người. Trong đó, “bệnh tiểu đường là căn bệnh dễ dẫn đến bệnh trầm cảm nhất.” Theo lời của Khanh, đây chính là nhóm người có nguy cơ mắc bệnh trầm cảm cao gấp hai lần những người mang bệnh mãn tính khác.
“Người Việt mình có thói quen cho rằng cứ người bị trầm cảm thì nghĩa là người đó bị tâm thần,” Khanh nói đó là lý do người bệnh đòi hỏi phải giữ bí mật trong lúc điều trị.
Không những vậy, đôi khi chính bản thân người bệnh cũng có nhìn nhận sai lầm là mình bị ‘khùng’. Khanh xác nhận “đây là khó khăn lớn nhất chúng tôi gặp phải trong quá trình điều trị. Khi chúng tôi bảo họ uống thuốc, họ hỏi ‘tôi không bị khùng thì tại sao phải uống thuốc?’”
Và phần lớn bệnh nhân đến đây không thấy được ích lợi của quá trình trị liệu (therapist).
Các bác sĩ tâm lý, chuyên viên trị liệu ở VNCOC hiểu rằng chữa trị trầm cảm phải đòi hỏi một kiến thức hiểu biết đến từ cả phía người bệnh. “Cho nên bắt họ chấp nhận cách giải thích mang tính khoa học thuần túy và tin vào một điều trị đòi hỏi sự kết hợp giữa tinh thần và thuốc thì cũng khó,” Khanh cho biết.
Tuy nhiên, không phải ai bị trầm cảm cũng muốn trốn tránh không dám đối diện. Ngược lại, không những họ sớm nhận ra, mà họ tự tìm đến chuyên gia và chấp nhận quá trình điều trị.
Đó chính là câu chuyện của một người phụ nữ trẻ, có kiến thức và thành đạt. Cô lập gia đình với niềm tin cùng nhau xây dựng một mái ấm hạnh phúc chung. Thế nhưng, người mà cô chọn làm chồng lại là bạn của “bác thằng bần.”
“Tiền bạc lần lượt ra đi để thoát khỏi cảnh nợ nần. Khi tôi quyết định ký giấy ly dị, thì cũng là lúc tôi biết mình rơi vào căn bệnh trầm cảm nặng. Đó là những tháng ngày nặng nề nhất. Mỗi sáng tôi không muốn thức dậy bước ra khỏi giường. Tôi nhìn mặt trời ló dạng với con mắt sợ hãi. Tôi biết mình đang sợ phải đối diện với ánh sáng, vì tôi không còn chút động lực gì để tiếp tục sống. Đỉnh điểm của thời gian đó là những lúc chạy xe ngoài đường, khi bên cạnh là một chiếc xe tải lớn, tôi đã nhiều lần có ý định cho tay lái đâm vào đó.”
Rất may mắn, là một người được học về dược khoa, cô sớm nhận thức được tình trạng của mình. Tìm đến người bạn là chuyên gia tâm lý, cô không ngần ngại kể chuyện đời mình. Cô kể luôn về những phút giây mình từng muốn chọn con đường rất tiêu cực để giải thoát. Người bác sĩ tâm lý khi đó bằng những câu hỏi nhẹ nhàng, không ép buộc, đã giúp cô hiểu được “mình như một người bị người ta lấy mũi dao nhọn đâm vào, nhưng mình đã không chết. Vậy, tại sao mình lại tự giết mình?”
Sau đó, bằng cách điều trị kết hợp giữa phương pháp trị liệu (therapist) và tâm lý (physiologist) mà đến nay mặc dù vẫn còn phải sử dụng thuốc, người phụ nữ này đã đứng lên, sống cuộc đời mới tràn đầy ý nghĩa. Không những thế, cô lấy chính cuộc đời mình để giúp người cùng cảnh ngộ.
Theo một tài liệu của VNCOC, chính bệnh trầm cảm nặng là bệnh tâm thần phổ biến nhất đưa đến tự tử. Và, “không điều trị trầm cảm là nguyên nhân số 1 của tự sát.”
Trầm cảm không chỉ đến với những người có chấn động về tâm lý, nó còn là “sát thủ vô hình” đối với những người đang ở đỉnh cao sự nghiệp, hoặc những ai luôn muốn tìm đến sự hoàn hảo.
Cái chết của nam diễn viên Robin Williams gần đây là tiếng chuông cảnh tỉnh rõ ràng nhất về sự ức chế, áp lực trong tâm lý của một người đang có trong tay nhiều thứ mà con người ao ước: tiền tài, sự nghiệp, danh vọng …, tất cả!
Không phải ngẫu nhiên mà danh họa người Hòa Lan Vincent Van Gogh có bức họa nổi tiếng miêu tả một người trong tư thế trầm cảm, hoặc bức tranh tự họa sau khi ông bắn vào tai phải của mình. Họa sĩ này luôn trong trạng thái cảm thấy mình là một gánh nặng. Hơn thế nữa, chính ông đã thú nhận trước khi chết: “Mình có ý định tự sát rất nhiều lần.”

Bức họa một người bị trầm cảm của danh họa Vincent Van Gogh. (Hình: GettyImages)
Cô Khanh Bành chia sẻ kinh nghiệm của mình trong những lần giao tiếp với bệnh nhân: “Không phải người bệnh trầm cảm nào cũng có được suy nghĩ tích cực và có thiện chí chữa trị như người phụ nữ ấy. Có những bệnh nhân đã chữa trị một năm, nhưng cho đến một ngày, họ đặt câu hỏi với chuyên gia tâm lý rằng ‘tôi không hiểu tại sao cứ bắt tôi đến đây và nói chuyện tào lao.’”
“Trong số bệnh nhân của VNCOC, những người này chiếm khoảng 20%. Khoảng 80% còn lại là những người đến đúng giờ hẹn của chuyên viên, uống thuốc theo đúng chỉ dẫn của chuyên gia trị liệu,” Khanh Bành nói.
Nguyên nhân ‘thiên hình vạn trạng’
Phải biết nguyên nhân thì mới biết cách điều trị. Đó là lý do vì sao khi người trầm cảm tìm đến sự giúp đỡ của VNCOC thì họ luôn được khuyến khích nói chuyện với một chuyên viên trị liệu. Nói bất kỳ đề tài nào họ cảm thấy tự tin và muốn nói. Rồi từ đó, bằng chuyên môn của mình, các chuyên viên sẽ khai thác tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến chứng trầm cảm của người bệnh.
Ở VNCOC, các chuyên viên trị liệu không bao giờ can thiệp vào việc bắt bệnh nhân phải làm thế này thế kia. Mà bằng những câu hỏi rất tế nhị, chuyên nghiệp, họ sẽ cho người bệnh tự nhận thức được và quyết định mình nên làm gì.
“Nếu người chuyên viên có những đề nghị bắt người bệnh phải làm thế này thế kia, thì theo tâm lý, phản ứng đầu tiên của họ là ‘gia đình tôi còn chưa khuyên tôi được thì tại sao tôi phải nghe mọi người’” Khanh nói.
Tuy nhiên, những tác nhân của trầm cảm không phải lúc nào cũng dễ nhận ra hoặc người bệnh không muốn đề cập đến. Có thể đó là một ngày nào đó trong năm liên quan đến một sự kiện khó chịu, hoặc gây đau đớn vốn không được ý thức phản ánh. Những cảm xúc đó bị dồn nén lâu ngày trở nên chai lì, hoặc sự kiện đó đã bị xoá bỏ và do đó ý thức của chúng ta không thể tiếp cận được với chúng.
Cho nên, nhiều thực tế điều trị cho thấy, sự kiện gây bùng phát thường không phải là nguyên nhân mà chỉ là một dịp, là cái cớ để chứng trầm cảm lộ ra. Chưa kể sau đó là một loạt sự kiện khác, liên quan đến những mất mát và chia ly, vốn thường xảy ra từ rất lâu và gây đau khổ cho người bệnh. Những sự kiện này có thể bắt nguồn từ thời gian trước đó.
Chính vì vậy, nếu những nguyên nhân vốn được che đậy đó được tìm ra và xử lý, thì chứng trầm cảm sẽ giống như làn sương gặp lúc nắng lên, tan biến dần.
Mỗi người mang chứng trầm cảm sẽ có 12 buổi nói chuyện với chuyên viên trị liệu trong một “package” điều trị, nhưng quá trình điều trị không thể thiếu tác động của thuốc. Mặc dù, chính Khanh cũng đồng ý “thuốc chỉ là tác nhân hóa học.”
Cô cho biết: “Vì mỗi người là một câu chuyện khác nhau. Và bản chất bệnh trầm cảm có nhiều cấp độ khác nhau. Cho nên, tùy mỗi trường hợp, chúng tôi điều trị cho họ bằng những loại thuốc khác nhau.”
Người phụ nữ từng có ý định tự hủy hoại đời mình, cho biết: “Khi uống thuốc vào, cơ thể tinh thần mình rất phấn chấn. Cho nên, thuốc dành cho bệnh trầm cảm luôn phải đi cùng với thuốc ngủ. Vì nếu không, sự hưng phấn sẽ làm người bệnh lúc nào cũng tỉnh táo. Ngay cả ban đêm.”
Tùy theo giai đoạn điều trị mà liều thuốc được các chuyên viên giảm đi hoặc tăng lên. Mỗi người bệnh dùng một loại thuốc khác nhau nên họ cũng có những phản ứng thuốc khác nhau.
Trầm cảm, căn bệnh có nhiều nguyên nhân và biểu hiện khác nhau.
Tiến Sĩ Alan Schwartz, Giám đốc Tâm Lý của Christiana Care Health System (Delaware) giải thích: “Trầm cảm là bệnh tâm thần gây ra bởi sự thay đổi đặc biệt trong tâm trạng và cảm xúc. Những cảm giác ‘không an toàn’ hiện diện trong tâm hồn một thời gian dài và có ảnh hưởng đáng kể cuộc sống hàng ngày của một người.”
Còn theo Khanh Bành thì “bi kịch của trầm cảm chính là ở tâm hồn.”
Trong một cuộc sống mà mọi việc không phải lúc nào cũng như chúng ta mong đợi, nhất là trong một xã hội có quá nhiều áp lực, thì việc dẫn đến sự tê liệt trong chống chọi để tồn tại, mất cân bằng trong cảm xúc, là điều tất nhiên. Và lúc đó, hệ quả của nó là trầm cảm.
Nguyên nhân dẫn đến trầm cảm thì “thiên hình vạn trạng.” Nhưng trên cơ bản, khoa học chia làm hai loại chính:
– Nguyên nhân tâm lý.
– Nguyên nhân có tính hệ lụy.
Nguyên nhân tâm lý dùng để chỉ những người có chấn động về tâm lý như thất bại về kinh tế; mất việc làm; mất người thân; làm việc trong một môi trường căng thẳng…
Nguyên nhân có tính hệ lụy là ngụ ý bệnh trầm cảm đến sau khi bệnh nhân mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo, hoặc khó chữa, ví dụ như tiểu đường, stroke, lạm dụng rượu và ma túy…
Một nguyên nhân nữa, chỉ chiếm thiểu số, là do di truyền.
Là người giữ vai trò “caseworker” cho VNCOC trong ba năm, nên Khanh Bành biết rõ trong ba nguyên nhân trên thì đa phần cộng đồng người Việt ở Quận Cam mắc phải căn bệnh trầm cảm là do nguyên nhân tâm lý và nguyên nhân có tính hệ lụy. Trong đó, số người mắc bệnh do nguyên nhân tâm lý chiếm đa số.
“Những người mới sang Mỹ không thích nghi và hòa nhập được với cuộc sống mới. Còn những người ở đây lâu năm thì đối diện với cơm áo gạo tiền, chống chọi với khó khăn của khủng hoảng kinh tế,” Khanh giải thích thêm về lý do những người bệnh tìm đến sự giúp đỡ chữa trị của VNCOC.
Không khó để nhận biết một người có khả năng đang bị trầm cảm.
Một người bỗng dưng dễ dàng nổi nóng; bỗng dưng không còn thích thú với những thói quen hàng ngày; họ rất dễ quên; luôn sợ hãi trước mọi việc diễn ra xung quanh; thói quen ăn uống thay đổi hẳn; họ hay khóc hoặc hay cười; họ tách biệt hẳn với đám đông, không muốn giao tiếp với bất kỳ ai…
… Đó là người có nguy cơ mắc chứng trầm cảm!

Người mắc chứng trầm cảm luôn tách mình ra khỏi đám đông. (Hình: GettyImages)
Thể và dạng của trầm cảm
Thế nhưng, cũng không hẳn có sự nhận diện đơn giản được như thế, khi mà trầm cảm đã được các chuyên gia xác định là căn bệnh thuộc về khoa học tâm thần, tâm lý.
Khi một người có triệu chứng căn bản như trên, chỉ cần kiến thức sơ khởi về bệnh trầm cảm, họ có thể nhận ra và tự tìm đến chuyên viên để chữa trị. Hoặc người thân xung quanh cũng có thể nhận thấy sự thay đổi đó.
Khoa học tạm gọi đó là “trầm cảm thông thường,” hay trầm cảm không điển hình (Atypical Depression) để phân biệt với dạng trầm cảm ẩn (Masked Depression), một căn bệnh khó chẩn đoán hơn rất nhiều.
Trầm cảm ẩn, hay còn gọi là “trầm cảm che dấu,” giống như một “người trong bóng tối,” người bệnh thì ở ngoài sáng.
Đây là dạng trầm cảm được che đậy dưới vỏ bọc của một loạt triệu chứng về thể chất như nhức đầu, đau vai, cổ, đau lưng, nhức mỏi tứ chi, khó tiêu hóa, hoặc những bệnh thể chất đang được điều trị bằng y khoa trong các phòng mạch.
Theo một nghiên cứu của Hiệp Hội Bác Sĩ Tâm Lý Hoa Kỳ (American Psychiatric Association,) những người có bệnh trầm cảm tiềm ẩn không có ý nghĩ tự sát như những người mắc bệnh trầm cảm thông thường. Tuy nhiên, việc chẩn đoán bệnh cho họ gặp rất nhiều khó khăn vì bệnh nhân hầu như chỉ nói đến những rối loạn chức năng trong cơ thể. Họ phủ nhận hoàn toàn, hoặc né tránh khi chuyên viên tâm lý trị liệu hỏi đến những chấn động về tâm lý mà họ có thể gặp phải.
Có một sự khác biệt về trạng thái này so với trầm cảm thông thường, đó là người có bệnh trầm cảm ẩn không bi quan, không bị mất đi động lực sống. Nhưng, chỉ cần nghĩ đến những cái đau về thể chất là họ trở nên sầu não và tưởng tượng về những điều rất tồi tệ.
Chuyên viên Khanh Bành cho biết thêm rằng trầm cảm ẩn xuất hiện nhiều ở trẻ em có bố mẹ bất hòa, mẹ sắp sinh em bé, hoặc những người có thời gian làm việc nhiều hơn thời gian nghỉ ngơi.
Ông T.N, một cư dân của Wesminster, là người tốt nghiệp khoa Tâm Thần Học ở Đức nói rằng: “Nếu muốn tìm hiểu về bệnh trầm cảm rõ nhất, hãy quan sát phản ứng của những đứa trẻ.”
Ông T.N kể về câu chuyện của chính mình. Là một người cha, ông nói rằng chỉ có ông mới nhìn thấy được chứng trầm cảm của con trai mình. May mắn là “nó chỉ gặp phải bệnh đó một thời gian ngắn, và tôi phát hiện ra. Tôi chữa trị cho con theo cách riêng của mình.”
Ông cho biết con mình là một cậu bé ngoan, học giỏi, lễ phép.
“Nó lễ phép, lịch sự với tất cả mọi người. Thế nhưng, chỉ với riêng mình tôi, nó dễ dàng nổi cáu và có những phản ứng rất mạnh như một cách bày tỏ những cái nó không thích,” ông kể về tình trạng của con mình.
Chính ông đã tìm hiểu tài liệu nghiên cứu về căn bệnh này, và ông phát hiện ra, đó chính là biểu hiện của chứng trầm cảm. Một người bị trầm cảm không nhất thiết phải lúc nào cũng buồn bã, u sầu, hoặc thay đổi thói quen cuộc sống của họ. Họ có thể hòa nhập vào thế giới bên ngoài hoàn toàn bình thường như bao người khác. Thế nhưng, chỉ với những người họ đặc biệt yêu thương, tin cậy (thông thường là chỉ có một người) thì họ mới có những phản ứng rất mạnh về những gì họ không thích.
Khoa học gọi đó là những “góc khuất” của một người trầm cảm.
Tổ chức Y tế thế giới WHO trong năm 2013 cảnh báo “trầm cảm là nguyên nhân dẫn đến tàn phế và đứng hàng thứ tư về gánh nặng bệnh lý trên toàn cầu hiện nay. Bệnh này có xu hướng gia tăng trong thời gian tới.” WHO dự báo đến năm 2020, bệnh trầm cảm sẽ đứng thứ hai về gánh nặng bệnh lý của nhân loại, chỉ sau các bệnh về tim mạch.
Cho nên, giữ tinh thần nhẹ nhàng, làm những gì mình thích để luôn cảm thấy được thoải mái. Nghe nhạc, xem phim, đọc sách, đi bộ… làm bất cứ điều gì mình muốn, là một trong những cách tránh khỏi phải đối diện với “người khách không mời mà đến.”
—
Liên lạc tác giả: [email protected]
























































































