Cuộc khởi nghĩa vĩ đại và hùng tráng của Hai Bà Trưng

Thời gian: Từ năm 39 sau Tây Lịch đến năm 43 sau Tây Lịch

Con người: Việt tộc gồm các phân bộ người Việt sống trong các khu định cư rải rác khác nhau như Lạc Việt, Mân Việt, Giao Chỉ, Nhật Nam, Cửu Chân, Hợp phố, và Âu Lạc.

Hoạt cảnh “Trưng Nữ Vương” của Trường Việt Ngữ Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam, do hai cô giáo Loan Anh và Mỹ Huyền cùng học trò trình diễn trong ngày đại lễ Hai Bà Trưng tổ chức ở Little Saigon năm 2023. (Hình minh họa: Văn Lan/Người Việt)

Vùng lãnh thổ: Mê Linh, Giao Chỉ, Nhật Nam, Cửu Chân, Hợp Phố, Thương Ngô, Lĩnh Nam, phía Nam chân dãy núi Ngũ Lĩnh.

Hơn hai thiên niên kỷ trước, người Việt sống rải rác ở các khu định cư khác nhau, trong một vùng đất rộng lớn, phía Nam dãy núi Ngũ Lĩnh. Khu định cư lớn nhất được gọi là Nam Việt nằm ở Giao Chỉ Giao Châu và Nam Hải và các khu vực khác ở phía Nam. Chủng tộc Việt bị thống trị và đất đai của họ bị người Trung Quốc chiếm giữ trong nhiều trăm năm, trước năm 39 sau Công Nguyên. Tô Định một Thái Thú Trung Quốc tàn nhẫn, với trụ sở chính tại Giao Chỉ, đã điều hành một chế độ áp bức vô cùng tàn bạo trong khu vực, phá hủy một cách có hệ thống văn hóa và bản sắc Việt, quyết tâm đồng hóa người Việt trở thành người Trung Quốc, với ý định xóa sổ chủng tộc Việt khỏi mặt đất. Nỗ lực man rợ của Tô Định đã gặp phải phản ứng cứng rắn của người Việt quyết tâm bảo tồn di sản của họ.

Các nhà lãnh đạo Việt vào thời điểm đó xuất thân từ các gia đình đáng kính, bị người Trung Hoa buộc phải hợp tác trong việc quản trị dân tình của họ. Trong số đó có gia đình Thi Sách ở Châu Diên và gia đình họ Trưng ở huyện Châu Phong lân cận.

Thi Sách là con trai của một gia đình Lạc Hầu. Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị là con của một vị Lạc tướng. Thân mẫu hai bà là Man Thiện, là thuộc dòng dõi vua Hùng đời cuối cùng. Cha mẹ hai bà Trưng đều là những chiến tướng. Thân phụ hai bà mất sớm. Cả hai được sinh ra để trở thành lãnh đạo của nhân dân. Có tư chất mạnh mẽ, thông minh, chăm chỉ, quyết đoán, có tầm nhìn xa trông rộng. Hai Bà được đào tạo để trở thành những người ham học hỏi và thực hành văn học, võ thuật và nghệ thuật quân sự. Chia sẻ sự khinh miệt chung của họ đối với sự tàn bạo của Trung Quốc, hai gia đình họ Trưng và Thi Sách dần dần thành lập một liên minh và từ đó kêu gọi các gia đình khác và các nhà lãnh đạo các quận huyện khác tham gia vào nỗ lực chống lại sự đối xử tàn bạo của Trung Quốc đối với người Việt. Cuộc hôn nhân của Trưng Trắc và Thi Sách đã củng cố mối quan hệ giữa hai gia đình trong nỗ lực chung của họ để chống lại chính sách của Tô Định.

Cảm thấy bị đe dọa bởi tinh thần chống Trung Quốc trong dân Việt và các nhà lãnh đạo của họ, Tô Định đã ra lệnh xử tử Thi Sách để gieo rắc nỗi sợ hãi trong dân chúng, để dẹp tan tinh thần chống Trung Quốc.

Hành động man rợ của Tô Định, ngược lại, làm tăng quyết tâm không lay chuyển của người Việt và Hai Bà Trưng trong ý định giải phóng bản thân và nòi giống khỏi ách nô dịch.

Vào khoảng ngày 4 Tháng Chín năm Kỷ Hợi, tức là năm 39 sau Công Nguyên, sau khi cúi đầu làm lễ trước ban thờ chồng và tiên tổ, bà đã thay áo quần tang chế để khoác lên người sắc phục uy nghi của một vị tướng quân sẵn sàng xông pha trận mac. Với trường kiếm trong tay, và em gái Trưng Nhị bên cạnh, Trưng Trắc long trọng phát nguyện lời thề bất tử trước một cuộc tụ họp đông đảo của người dân từ các gia đình, khu vực và quận huyện khác nhau:

“Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này.”

Sau bao năm bị người Hoa đô hộ, lời thề nguyện linh thiêng trên là món quà vĩnh cửu mà Hai Bà Trưng trao cho toàn thể nòi giống Việt. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập oai nghi hùng tráng đã mang đến cho người Việt sức mạnh và niềm tin để vươn lên đòi lại phẩm giá, độc lập, quê hương và làm chủ vận mệnh của chính họ.

Truyền thuyết kể rằng từ cuộc tụ họp đó, sau khi nghe lời tuyên hứa của Trưng Trắc, một đội quân đầu tiên đã được thành lập ngay với 80,000 người tình nguyện gia nhập. Lực lượng cách mạng của Hai Bà Trưng đã phát động cuộc tấn công đầu tiên vào huyện lỵ Mê Linh. Sau khi đánh bại quân Trung Quốc tại Mê Linh, quân Hai Bà Trưng tiến lên kiểm soát thành Cổ Loa, sau đó vượt sông Hoàng rồi sông Đuống, tấn công và đánh bại địch quân tại pháo đài Luy Lâu bên bờ sông Dâu. Chỉ trong một thời gian ngắn, cuộc tiến quân vũ bão của lực lượng khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo thần thánh của Hai Bà Trưng lần lượt xua đuổi toàn bộ quân đô hộ ra khỏi tất cả 65 pháo đài, thành, huyện lỵ, giành lại đất nước cho người Việt, không chỉ ở Giao Chỉ mà còn mở rộng ra nhiều vùng khác, vươn tới khu phía Nam dãy núi Ngũ Lĩnh. Sử sách Trung Quốc ghi chép lại là “tất cả các khu vực khác, bao gồm Hợp Phố, Lĩnh Nam, Nhật Nam, Cửu Chân, Nam Hải, đã tham gia vào cuộc cách mạng của chị em họ Trưng vì tất cả căm thù sự tàn ác tham độc của Tô Định.” Cũng nên biết rằng phần lớn các tướng lĩnh và chỉ huy của đạo quân khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là phụ nữ và tất cả đã chiến đấu quyết liệt và anh dũng trong suốt giai đoạn của cuộc cách mạng oai hùng của Hai Bà.

Nhiều tướng lĩnh, binh lính, quan chức Trung Quốc bị giết. Những người còn lại chạy thục mạng, trốn về nước. Thái Thú Tô Định đã thức giấc trước tiếng reo hò chiến thắng như sấm sét của quân dân Việt đang tiến gần đại bản doanh của y. Khi thấy các tướng lĩnh và binh lính của mình đã xa chạy cao bay, Tô Định đã vứt bỏ tất cả các ấn tín, sắc phong, mệnh lệnh và phù hiệu của quyền lực chính thức y nhận được từ hoàng đế Trung Quốc, rồi cạo đầu, cắt râu, thay quần áo cải trang thành một nông dân nghèo người Việt để trốn thoát về Trung Quốc.

Sự kiện quân đội Việt, với vũ trang thô sơ và mới được thành lập, dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, đánh bại và trục xuất tất cả các lực lượng chiếm đóng của Trung Quốc khỏi lãnh thổ của nòi giống Việt, gây nên một sự kinh hoàng lo ngại khắp đế chế Trung Quốc rộng lớn.

Nhân dân và lãnh đạo của tất cả 65 quận, huyện đã tôn vinh chị em Bà Trưng là Nữ Vương của nòi giống Việt. Trưng Trắc và Trưng Nhị lên ngôi và trở thành những nữ vương đầu tiên của người Việt, vào năm 39 sau Công Nguyên.

Tức giận và lo lắng trước thất bại nhục nhã đó, hoàng đế Trung Quốc nhà Hán hiểu rõ rằng, nếu cuộc cách mạng Việt thắng lợi và đứng vững, thì đế chế Hán mới hoàn thành cuộc chinh phục áp chế các chư hầu của ông sẽ bị đe dọa trầm trọng. Quyết tâm trừng phạt người Việt thật nhanh chóng, dập tắt hậu họa gây nên bởi quân dân Việt, Hán Đế phái Mã Viện, một trong những tướng lĩnh giàu kinh nghiệm nhất, và phong cho tước hiệu “Phục Ba Tướng Quân” để lãnh đạo hàng trăm ngàn tướng sĩ và binh lính có kinh nghiệm nhiều năm chiến đấu dày dạn, với 2,000 tàu chiến và các đoàn kỵ binh, được trang bị đầy đủ vũ khí tối tân nhất thời đó, cùng một hệ thống hậu cần đầy đủ để hỗ trợ cuộc chiến mới với người Việt.

Sau khi thu thập binh mã, huấn luyện và chỉnh đốn hàng ngũ, Mã Viện tiến quân sang nước ta theo hai đường, thủy quân dọc theo đường biển và đường bộ.

Quân của Hai Bà dù thiếu huấn luyện và kinh nghiệm, chỉ được trang bị vũ khí thô sơ, đã chiến đấu vô cùng anh dũng, từng bước ngăn cản đường tiến của giặc xâm lược, từ các đồn biên phòng đến vùng núi cao, đến đồng bằng, trên sông và các sườn đồi, quân Hai Bà đã gây tổn thất nghiêm trọng cho kẻ thù. Một số tướng lĩnh và gần nửa số binh sĩ của giặc đã chôn vùi thân xác trong chiến trận, hoặc bị bệnh tật không còn sức lực để chiến đấu.

Sau khi bị thiệt hại nặng nề vì bị quân Việt phục kích trong các vùng rừng núi hiểm trở, Mã Viện cho quân xẻ núi, làm đường để dẫn quân xâm lăng tiến vào nước ta dễ hơn và giảm bớt hiểm nguy vì những trận phục kích dựa vào địa hình của quân Việt.

Bất chấp sự hy sinh dũng cảm và tinh thần can đảm vô song, lực lượng quân dân cách mạng Việt mới được thành lập đã không có thời gian và phương tiện cần thiết để ngăn chặn sự tấn công liên tục dữ dội của các lực lượng xâm lược khổng lồ được đào tạo qua nhiều năm chiến tranh. Vào khoảng đầu năm 43 sau Công Nguyên, sau thời gian gần ba năm đánh nhau với quân nhà Hán, rất nhiều tướng và quân sĩ của Hai Bà đã hy sinh dũng cảm. Mã Viện tiến đến Mê Linh để thiết lập vòng vây cô lập tàn quân của Hai Bà. Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh thân tín thoát vòng vây rút quân về sông Hát, nơi Bà Trưng Trắc đã tuyên bố lời thề nguyện với nhân dân vào buổi bình minh của cuộc khởi nghĩa.

Khi quân địch đến gần, quyết tâm không để bị quân xâm lược bắt giữ, hai nữ anh hùng Trưng Trắc và Trưng Nhị đã từ trầm trong giòng sông Hát.

Hai Bà chết đi để cho người dân và nước Việt được sống, và mãi mãi tồn tại. Học giả Phạm Huy Thông đã có nhận định xác đáng, “đó là một cái chết không bao giờ chết.” Hai Bà đã hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng cao cả của mình như lời thề nguyền trước hồn thiêng của núi sông! Vài năm ngắn ngủi của triều đại Trưng Vương và những trận chiến liên tục với người Trung Quốc đánh dấu lịch sử vẻ vang của hai nữ anh hùng đầu tiên và vĩ đại nhất của lịch sử Việt Nam. Sự ngắn ngủi của thời gian trị vì không làm lu mờ đức hy sinh cao cả của hai vị nữ anh hùng tuyệt luân của giòng giống Việt.

Chính những hy sinh vô bờ bến của Hai Bà đã tạo nên niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ và sử gia, cả Việt Nam lẫn Trung Quốc. Nhà sử học Việt Nam nổi tiếng Ngô Sĩ Liên của thế kỷ 15 đã viết không có gì vĩ đại hơn lý tưởng của Hai Bà. Năm 1715, học giả Cao Huy Diệu viết rằng lời kêu gọi tuyên chiến chống Trung Quốc giành độc lập của Hai Bà là một sự nghiệp kinh thiên động điạ.

Một bài thơ nổi tiếng được loan truyền rộng rãi ngay tại Trung Quốc của một tác giả vô danh người Hoa, được viết ít lâu sau khi chiến tranh kết thúc, phản ánh sự thần tượng đầy thi tứ, và niềm tôn kính thiêng liêng của nhiều trí thức Trung Quốc đối với sự nghiệp vĩ đại của Hai Bà.

“Tóc mây xõa xuống bờ vai tuyết, Hơi thở ngát hương thơm, Làn da trắng như ngọc ngà… Nụ cười tươi hơn bông hoa đang nở, Lãnh đạo quân dân của Bà chống lại người Trung Quốc.”

Với cái chết, Hai Bà đã làm cho cả dân tộc Việt sống lại, độc lập, tự hào và được kính trọng từ khi sống hay ngay trong cái chết, Hai Bà đã trao truyền cho nòi giống Việt lòng tự tin, danh dự và niềm cảm hứng vô song để vươn lên cao, bảo vệ nòi giống, đất nước, và quê hương. Được truyền tải bởi đức hy sinh và công nghiệp vinh quang của Hai Bà, những con dân Việt, thế hệ này qua thế hệ khác, tiếp tục tôn vinh Hai Bà bằng sự cống hiến của chính mình cho sự sống còn của đất nước trong những lúc hiểm nguy.

Cuộc cách mạng Trưng Vương bắt đầu gần 2,000 năm trước và đã tiếp tục với các thế hệ đến sau. Những lời thề nguyền và những trận chiến Hai Bà và quân dân Việt đã hy sinh chiến đấu đã trở thành những đền đài muôn đời bất khả hủy diệt trong tâm khảm của con dân Việt ở tất cả mọi không gian và thời gian vô tận.

Khi viết những lời kết thúc này, nước mắt tôi trào ra với niềm tự hào tràn ngập trong tâm trí. Trong lịch sử nhân loại chưa từng có nữ anh hùng vĩ đại nào có thể so sánh được với Hai Bà Trưng của chúng ta. Bỗng nhiên, tôi thấy như mình đang quỳ gối bên bờ sông Hát, lắng nghe dòng nước lấp lánh chảy như tiếp tục rửa sạch bao nỗi đau thương và thống khổ mà giòng giống Việt đã phải chịu dưới sự thống trị hà khắc của bọn giặc xâm lăng phương Bắc. Và tôi cầu nguyện: “Nước thiêng ơi, xin đừng bao giờ ngừng chảy! Trong giòng nước thiêng đang chứa đựng linh hồn của dân tộc và tinh thần của giòng giống Việt.” Xin cảm ơn giòng sông Hát đã bảo vệ thánh thể thiêng liêng của hai nữ anh hùng yêu quý và vĩ đại nhất của Việt Nam. Hai Bà đang mỉm cười với con dân Việt ở bất cứ nơi nào trên điạ cầu này, và nói hãy gìn giữ cho đất nước và nhân dân chúng ta an bình, độc lập, cường thịnh và hãy trân trọng những gì Hai Bà đã ban cho chúng ta: Một vùng đất gọi là Việt Nam, một dân tộc gọi là người Việt Nam.

Kính cẩn dâng lên Hai Bà, nhân ngày Đại Lễ Trưng Vương do Hội Cựu Nữ Sinh Trưng Vương Nam Cali tổ chức, 2025

Phạm Vân Bằng, cựu nữ sinh Trưng Vương, Sài Gòn, 1958-1965 [đ.d.]

 

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT