Anh ngữ trong đời sống hàng ngày


The Imperative Mood




 Bản chuyển tả do Quỳnh Anh thực hiện. Bài học được phát trên Hồn Việt Television.

QUỲNH ANH: Ðây là chương trình Anh Ngữ Trong Ðời Sống Hàng Ngày do Bùi Bảo Trúc, Lãm Thúy và Quỳnh Anh phụ trách. Chương trình đến với quí vị hàng tuần để ôn lại một số điều liên quan đến Anh ngữ mà quí vị gặp trong đời sống. Quí vị có thắc mắc xin liên lạc với Hồn Việt TV nhờ chuyển lại.

LÃM THÚY
: Thúy muốn hỏi thầy IMPERATIVE MOOD là gì, có liên quan gì đến IMPERATIVE VERBS không?

BÙI BẢO TRÚC:
IMPERATIVE MOOD là một trong BA CÁCH trong Anh ngữ (hai MOOD kia là INDICATIVE MOOD và SUBJUNCTIVE MOOD) mà chúng ta dùng để ra lệnh, hay đưa ra một lời khuyên, hay một đề nghị, hoặc một lời mời, một chỉ dẫn. Vì thế, nếu gọi IMPERATIVE MOOD là MỆNH LỆNH CÁCH thì không hoàn toàn đúng. Lý do là vì IMPERATIVE MOOD không phải lúc nào cũng được dùng để ra lệnh.

Nhưng vì IMPERATIVE VERBS là những động từ chúng ta thường dùng để ra lệnh nên người ta cũng gọi chúng là BOSSY VERBS. BOSSY là do danh từ BOSS mà ra. BOSS là ông chủ, là cấp trên. Tĩnh từ BOSSY là hách dịch, có tính cách người trên đối với kẻ dưới. BOSSY VERBS là các động từ dùng để ra lệnh.

QUỲNH ANH:
Thưa anh, các động từ BOSSY VERBS này dùng như thế nào? Nó có các thì, tức là các TENSES như PAST, PRESENT, FUTURE, PERFECT và CONTINUOUS không?

BBT:
IMPERATIVE MOOD không có những thì, những TENSES như QA vừa nói. Chúng ta không thể ra lệnh trong quá khứ được. Quá khứ đã qua, không ai có thể quay ngược lại thời gian để ra lệnh hay đưa ra những đề nghị, chỉ dẫn, yêu cầu trong quá khứ được. Thí dụ liên minh NATO không thể ra lệnh cho ông Qaddafi đầu hàng ngay sau cuộc biểu tình đầu tiên chống ông ta được vì nay ông đã chết rồi, quân nổi dậy đã bắn chết ông, và thời gian để có thể ra lệnh không còn nữa. Tuy nhiên, IMPERATIVE có thể hàm ý một mệnh lệnh hay một đề nghị trong tương lai. Thí dụ chúng ta có thể nói COME TO THE MEETING NEXT WEEK. Ðây là một gợi ý, một đề nghị cho tuần tới, nhưng mệnh lệnh, đề nghị vẫn là mệnh lệnh đưa ra vào lúc này, tức là thì hiện tại.

Dùng các động từ IMPERATIVE VERBS này như thế nào ư? Cứ dùng nguyên mẫu (INFINITIVE) của động từ , bỏ TO ở trước đi là chúng ta có ngay IMPERATIVE MOOD. Thí dụ HAVE SOME COFFEE WITH ME.

LÃM THÚY
: Như vậy thì tất cả các động từ đều là IMPERATIVE VERBS có phải không thầy?

BBT
: Không phải. Chỉ các động từ chỉ hành động (ACTION VERBS) mới có thể được dùng trong IMPERATIVE MOOD. Chỉ có các động từ chỉ ACTION mới có thể là các BOSSY VERBS hay IMPERATIVE VERBS mà thôi. Thí dụ các động từ như CAN, SHALL, MUST, MAY, WOULD, SHOULD thì không là BOSSY VERBS. Chúng ta không thể ra lệnh cho người khác có khả năng này, có khả năng khác (CAN). Không thể nói CAN SPEAK JAPANESE là người ấy nghe lệnh là nói được tiếng Nhật ngay chẳng hạn.

QUỲNH ANH
: IMPERATIVE VERBS như vậy không có chủ từ đi ở trước phải không thưa anh?

BBT:
Ðúng vậy. Thực ra, chủ từ nó là ngôi thứ hai, SECOND PERSON, nhưng chúng ta không nói ra. Chủ từ YOU bao giờ cũng được hiểu ngầm (IMPLIED). Thí dụ chúng ta không ra lệnh như thế này: YOU CLOSE THE DOOR, mà chỉ cần nói CLOSE THE DOOR là đủ, không cần chủ từ YOU nữa. Ðây là một mệnh lệnh chuyển thẳng cho người đang nói chuyện với chúng ta, người ấy đang đứng cạnh chúng ta, đang trực tiếp nghe chúng ta. Cũng có khi câu IMPERATIVE của chúng ta nói không là mệnh lệnh chi hết. Thúy cho nghe một câu IMPERATIVE không mang ý nghĩa mệnh lệnh coi.

LÃM THÚY
: Thí dụ khi Thúy nói với khách ở tiệm rằng CALL THIS NUMBER TO ACTIVATE THE PHONE CARD nghĩa là xin gọi số này để bắt đầu dùng điện thoại thì đây không phải là mệnh lệnh. Ai dám ra lệnh cho khách bao giờ. Thúy chỉ đưa ra một lời chỉ dẫn (INSTRUCTION) về cách dùng tấm thẻ phone mà thôi.

QUỲNH ANH
: Có lần con gái Quỳnh Anh nói như thế này với Quỳnh Anh khi Quỳnh Anh dùng computer của nó: MOVE THE ARROW TO THE ICON YOU WANT TO OPEN AND CLICK IT nghĩa lả mẹ di chuyển mũi tên đến hình (hồ sơ) mà mẹ muốn mở thì cũng không phải là một mệnh lệnh phải không thưa anh?

BBT
: Nhưng cùng những câu như hai câu trên, nếu nói bằng một giọng khác thì chúng là mệnh lệnh ngay. Khi viết mà thêm dấu than (!) ở cuối câu thì đó cũng là cách để cho người đọc nhận ra là mệnh lệnh.

QUỲNH ANH:
Nếu muốn làm cho câu nhẹ đi, bớt vẻ người trên nói với người dưới, không còn ý nghĩa ra lệnh nữa thì chúng ta phải làm thế nào?

BBT:
Chúng ta thêm PLEASE ở phía trước, hay phía sau câu cũng đều được. PLEASE SHUT THE DOOR hay SHUT THE DOOR PLEASE nghĩa là xin đóng cửa lại.

LÃM THÚY:
Ở trên anh nói IMPERATIVE MOOD không có các thì PAST, PRESENT, FUTURE nhưng IMPERATIVE vẫn phải có NEGATIVE chứ thưa anh?

BBT:
Ðúng là như thế. Muốn có nghĩa NEGATIVE, chúng ta đặt DO NOT hay DON’T ở đầu câu. Thúy cho nghe ba thí dụ với NEGATIVE FORM của IMPERATIVE coi.

LÃM THÚY
: DO NOT CALL PEOPLE AFTER 10 PM nghĩa là đừng điện thoại sau 10 giờ tối.
DO NOT PUT SUGAR IN MY COFFEE nghĩa là đừng bỏ đường vô cà phê của tôi.
DO NOT SEND CASH BY MAIL tức là đừng gửi tiền mặt qua đường bưu điện.

BBT:
Và dĩ nhiên là nếu muốn cho lễ phép, nhẹ nhàng hơn thì chúng ta nói thế nào đây Quỳnh Anh?

QUỲNH ANH:
Chúng ta thêm PLEASE ở đầu hay cuối câu để thành PLEASE DO NOT (xin đừng) CALL PEOPLE AFTER 10 PM. PLEASE DO NOT PUT SUGAR IN MY COFFEE.
PLEASE DO NOT SEND CASH BY MAIL.

BBT
: IMPERATIVE MOOD cũng được dùng để đưa ra những lời cảnh cáo, tức là WARNING. Thí dụ câu KEEP QUIET NOW! Tùy theo cách nhấn các chữ trong câu, nó có thể là một mệnh lệnh (ORDER) hay cũng có thể là một lời cảnh cáo (WARNING).

Nếu nhấn mạnh vào cả ba chữ KEEP, QUIET và NOW nhưng xuống giọng ở NOW thì đó là một mệnh lệnh.

Nếu nhấn cả ba chữ KEEP, QUIET và NOW, nhưng lên giọng ở chữ cuối, chữ NOW, thì đó là một câu dùng để cảnh cáo.

QUỲNH ANH
: Thưa anh, WARNING (cảnh cáo) và ADVICE (lời khuyên) có khác nhau không?

BBT:
IMPERATIVE MOOD ngoài cách dùng để ra lệnh còn được dùng để cảnh cáo hay khuyên bảo. Khuyên bảo nhẹ hơn cảnh cáo. Không nghe theo lời cảnh cáo có thể gặp chuyện không tốt. Nhưng không làm theo lời khuyên bảo có khi cũng chẳng sao. Quỳnh Anh cho nghe một câu với lời cảnh cáo và một câu với một lời khuyên coi.

QUỲNH ANH
: TURN OFF ALL APPLIANCES BEFORE GOING AWAY tắt bếp, bàn ủi, máy giặt trước khi ra khỏi nhà là WARNING cảnh cáo.

WEAR A TIE FOR THE JOB INTERVIEW nghĩa là thắt cà vạt khi đi phỏng vấn xin việc là ADVICE lời khuyên.

BBT:
Cô Thúy cho nghe vài lời khuyên khác coi.

LÃM THÚY
: DON’T DRINK AND DRIVE đừng uống rượu lái xe.
DON’T EAT TOO MUCH RED MEAT đừng ăn quá nhiều thịt đỏ.
DO NOT TALK ABOUT IT ON THE PHONE nghĩa là đừng nói chuyện ấy qua điện thoại.

BBT
: Trong những câu đưa ra những lời khuyên ADVICE, chúng ta không cần phải nhấn mạnh từng chữ như những câu cảnh cáo WARNING và mệnh lệnh ORDER.
IMPERATIVE MOOD cũng được dùng để mời mọc như COME IN AND SIT DOWN nghĩa là xin vào và ngồi xuống. MAKE YOURSELF AT HOME xin cứ tự nhiên như ở nhà. PLEASE START WITHOUT ME xin cứ bắt đầu ngay đừng đợi tôi. HAVE A PIECE OF CAKE xin ăn thử miếng bánh.

Khi muốn cho lời mời mọc nghe khẩn khoản hơn, chúng ta dùng DO ở trước động từ chính. Quỳnh Anh cho nghe lại những câu mời mọc trên với một chút khẩn khoản và ân cần hơn coi.

QUỲNH ANH
: DO COME IN AND SIT DOWN.
DO MAKE YOURSELF AT HOME.
PLEASE DO START WITHOUT ME.
DO HAVE A PIECE OF CAKE.

LÃM THÚY
: Thưa anh, khi đưa ra một đề nghị, hay một cảnh cáo mà muốn bao gồm luôn cả người nói tức là ngôi thứ nhất (FIRST PERSON) thì trong tiếng Anh nói như thế nào?

BBT
: Cô hỏi một câu rất hay. Chúng ta chỉ cần thêm LET US hay LET’S vào đầu câu là ngôi thứ nhất FIRST PERSON được bao gồm vào luôn.

Thí dụ TALK TO HIM thì không có tôi ở trong đề nghị. Nhưng nếu nói LET US TALK TO HIM thì có cả tôi, nghĩa là chúng ta hãy cùng nói chuyện ấy với anh ấy. LET US hay LET’S nghĩa là CHÚNG TA HÃY CÙNG làm một việc gì đó.

QUỲNH ANH
: Thế còn nếu muốn nói CHÚNG TA HÃY ÐỪNG làm một điều gì đó thì câu IMPERATIVE sẽ như thế nào?

LÃM THÚY
: Hình như Thúy biết. Thúy nghe mấy đứa con bảo nhau đừng đi xem một cuốn phim nọ như thế này: LET US NOT (nghĩa là chúng ta hãy đừng ) GO TO SEE THAT FILM.

Nhưng thưa anh, có thể nói như thế này không DON’T LET US GO TO SEE THAT FILM.

BBT:
Không. Vì ý nghĩa sẽ hoàn toàn khác. LET’S NOT SEE THAT FILM là CHÚNG TA HÃY ÐỪNG đi xem cuốn phim đó.

DON’T LET US SEE THAT FILM là HÃY ÐỪNG ÐỂ CHÚNG TÔI xem cuốn phim đó.

QUỲNH ANH
: Thưa anh, hồi nãy anh nói chỉ các động từ chỉ hành động mới có thể dùng trong IMPERATIVE MOOD. Vậy thì động từ TO BE có dùng trong các câu mệnh lệnh, đề nghị không?

BBT
: Ðược chứ. Thí dụ khi nói BE HONEST WITH ME chẳng hạn. BE HONEST WITH ME là hãy thành thật với tôi, thì khi làm công việc thành thật đó, ngôi thứ hai, SECOND PERSON phải có một số hành động như nói thật, can đảm, không che giấu bất cứ một điều gì. Làm bằng ấy điều thì cũng là những hành động bao gồm trong động từ TO BE HONEST chứ còn gì nữa?

Vậy thì cô Quỳnh Anh thử đưa ra vài thí dụ với TO BE trong IMPERATIVE MOOD coi.

QUỲNH ANH
: BE KIND TO YOURSELF nghĩa là hãy tử tế với chính mình.
ALWAYS BE SUPPORTIVE TO YOUR CHILDREN nghĩa là hãy giúp đỡ con của chúng ta.
NEVER BE SORRY FOR THE PAST nghĩa là đừng giận về những chuyện đã xảy ra trong quá khứ.
DON’T BE TOO HARD TO YOURSELF nghĩa là đừng quá khe khắt với chính bạn.

Thưa quí vị, chương trình Anh Ngữ Trong Ðời Sống Hàng Ngày đến đây xin tạm chấm dứt. Chương trình sẽ trở lại vào tuần tới cùng với các chương trình khác của Hồn Việt Television. Bùi Bảo Trúc, Lãm Thúy và Quỳnh Anh xin chào tạm biệt quí vị và hẹn gặp lại trong chương trình tới.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT